Tin không lề: Trung Quốc

Quân đội Trung Quốc đã từ bỏ đế chế kinh doanh tỷ USD như thế nào

Từ năm 1993, Trung Quốc bắt đầu hạn chế quân đội làm kinh tế, nhưng phải đến năm 1999 họ mới đạt kết quả đáng kể.

Trung Quốc không phải quốc gia duy nhất trên thế giới có quân đội tham gia hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, theo tạp chí quân sự Jane's Defence Weekly, quân đội nước này - PLA chính là cái tên đi tiên phong và cũng là nổi bật nhất.

Trong cuốn "Soldiers of Fortune", tác giả James C. Mulvenon cho biết hoạt động kinh doanh của quân đội Trung Quốc đã có từ khá sớm. Giai đoạn 1927 - 1950, quân đội đã được cho phép tự cung cấp tài chính bằng cách điều hành các nhà máy và trang trại. Việc này tiếp tục kéo dài trong thời kỳ Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông.

Tuy nhiên, phải đến đầu thập niên 80, mô hình này mới phát triển mạnh, với sự hậu thuẫn của lãnh đạo Trung Quốc - Đặng Tiểu Bình, Forbes cho biết. Nhằm hiện đại hóa kinh tế và kiểm soát chặt chi tiêu quốc phòng, ông cho phép quân đội sử dụng tài nguyên và cơ sở vật chất của mình để tăng sản xuất phục vụ dân sinh.

Từ đó, mạng lưới kinh doanh của quân đội Trung Quốc bùng nổ. Họ làm mọi thứ, từ nuôi lợn, lập hãng hàng không, mở bệnh viện, đào than đến kinh doanh khách sạn và dịch vụ viễn thông. Thậm chí, 3 trong 12 câu lạc bộ trong giải bóng rổ chuyên nghiệp Trung Quốc cũng do các đơn vị của PLA sở hữu. Nhiều hãng dược phẩm và dệt may lớn nhất nước cũng nằm trong tay quân đội.

Quân đội Trung Quốc từng sở hữu đế chế kinh doanh tỷ USD. Ảnh: Reuters

Nhìn từ bên ngoài, người ta có thể dễ dàng kết luận PLA kiểm soát phần lớn ngành công nghiệp và thương mại Trung Quốc. New York Times cũng cho biết "Phần lớn việc kinh doanh của các công ty Mỹ tại Trung Quốc là với các doanh nghiệp do quân đội kiểm soát".

Sau 14 năm, quân đội Trung Quốc đã phát triển được một đế chế kinh doanh toàn cầu. Economist dẫn thông tin từ giới truyền thông Trung Quốc cho biết thời đó, đế chế này trị giá 50 tỷ NDT (6 tỷ USD) với lợi nhuận hàng năm khoảng 600 triệu USD. Tổng số doanh nghiệp quân đội vào khoảng 20.000 trên cả nước.

Tuy nhiên, Tai Ming Cheung - nhà phân tích tại công ty chứng khoán Kim Eng, và cũng là tác giả một cuốn sách về PLA ước tính số doanh nghiệp họ sở hữu vào khoảng 15.000, tạo ra doanh thu 10 tỷ USD mỗi năm. Cheung cho rằng doanh thu này phải tăng khoảng 10-15% mỗi năm.

Dù vậy, việc quản lý hàng nghìn doanh nghiệp rất thiếu sự tập trung. Nhiều công ty được điều hành bởi một sĩ quan quân đội hoặc quân nhân đã nghỉ hưu. Công ty khác lại do dân thường quản lý. Trên lý thuyết, Tổng cục Hậu cần Quân đội Trung Quốc là cơ quan quản lý hoạt động kinh doanh của PLA. Tuy nhiên, chính họ cũng từng công khai thừa nhận chẳng biết có bao nhiêu doanh nghiệp thuộc quyền kiểm soát của quân đội, chứ chưa kể đến việc kiểm toán.

Việc này đã khiến giới chức Trung Quốc đau đầu. Nhiều công ty thuộc các đơn vị của PLA còn bị cáo buộc làm giả sản phẩm hay buôn lậu xe sang. Đến thập niên 90, Chủ tịch Trung Quốc khi ấy - Giang Trạch Dân nhận ra việc các cơ quan nhà nước tham gia quá sâu vào kinh doanh chính là rào cản với cải tổ và quản lý.

Giai đoạn tháng 11 - 12/1993, Trung Quốc ra hàng loạt quy định nhằm hạn chế hoạt động kinh doanh của quân đội. Theo đó, họ cấm các đơn vị dưới cấp tập đoàn quân (army group) tham gia vào giao dịch thương mại. Tuy nhiên, chiến dịch này chỉ thành công một phần.

Đến năm 1995, nó được sửa đổi thành lệnh cấm với các đơn vị dưới cấp quân khu. Nỗ lực này cũng chẳng mấy thành công.

Cuối cùng, đến tháng 7/1998, giới chức Trung Quốc ra lệnh toàn bộ các đơn vị quân đội, cảnh sát nhân dân có vũ trang, các cơ quan an ninh quốc gia và công cộng phải bán hết cổ phần, đồng thời rút khỏi mọi hoạt động kinh doanh. Việc này phải hoàn tất vào tháng 12 cùng năm.

Lần này, các lãnh đạo Trung Quốc rất kiên quyết. Cũng như tất cả chính sách lớn khác, họ thành lập một nhóm gồm đại diện các cơ quan cấp cao nhất để thực hiện việc này.

Đầu tiên là Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc - Phó Toàn Hữu. Ông đã nhận thức được tác động tiêu cực mà kinh doanh gây ra với hoạt động luyện tập cũng như tinh thần sẵn sàng của quân đội và từ lâu vẫn đề nghị kìm hãm việc này.

Thứ hai là lãnh đạo đảng, nắm quyền đúng thời điểm các vụ buôn lậu của quân đội Trung Quốc ở phía Nam trở nên tràn lan và tham nhũng xảy ra khắp nơi. Thứ ba là tân Thủ tướng - Chu Dung Cơ. Ông khẳng định nếu Trung Quốc muốn xây dựng "một sân chơi công bằng" cho nhà đầu tư trong nước và quốc tế, đồng thời đáp ứng tiêu chuẩn để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), quân đội cần rút khỏi mọi hoạt động kinh doanh và bán hết tài sản tài chính.
Cựu Thủ tướng Trung Quốc - Chu Dung Cơ. Ảnh: SPH

Đây là lệnh cấm được thực hiện kiên quyết nhất từ trước đến nay. Dĩ nhiên, nó cũng không đảm bảo được tuân theo hoàn toàn. Rất nhiều đơn vị đã tìm cách giấu tiền và tài sản trong các tài khoản ngân hàng ở nước ngoài.

Năm 1999, tạp chí Shidai Chao thuộc People’s Daily cho biết đợt kiểm toán đầu năm cho thấy 10% doanh nghiệp vẫn không tuân theo lệnh trên. Dù vậy, hơn 2.900 công ty đã được chuyển giao cho nhà nước và gần 4.000 công ty khác đã đóng cửa trước hạn chót tháng 12/1998.

Sau đó, giới chức đặt ra hạn chót lần 2 là tháng 8/1999. Đến lúc này, thêm hơn 3.500 doanh nghiệp nữa đã được chuyển giao. Số nhân lực của các công ty này lên tới 230.000 người.

Chỉ trong một năm, khoảng 90% doanh nghiệp thuộc PLA đã phải chuyển lại tài sản cho một cơ quan nhà nước có tên SETC Handover Office. Cơ quan này được lập ra bởi Ủy ban Thương mại và Kinh tế Nhà nước (SETC) Trung Quốc.

Dù vậy, Xinhua trích lời Jiang Luming - Giáo sư Đại học Công nghệ Quốc phòng Trung Quốc cho biết quân đội vẫn được dùng tài nguyên dư thừa để cung cấp dịch vụ cho người dân tại 15 lĩnh vực, do ngành dịch vụ của Trung Quốc khi đó còn yếu. Những dịch vụ này đã giúp phát triển kinh tế trong nước, tạo sự tiện lợi cho người dân và bù đắp thiếu hụt trong chi tiêu quốc phòng. 

Tuy nhiên, những năm gần đây, khi kinh tế thị trường phát triển và hoạt động kinh doanh còn nhiều kẽ hở, ngày càng nhiều vụ tham nhũng có sự tham gia của quân đội xuất hiện. Tháng 11 năm ngoái, Bộ Quốc phòng Trung Quốc tuyên bố các hoạt động không thiết yếu như bệnh viện và khách sạn quân đội phục vụ dân chúng sẽ bị dừng hoạt động. 

Tháng 5 năm nay, Quân ủy Trung ương Trung Quốc cũng thông báo sẽ chấm dứt mọi hoạt động kinh tế của quân đội, để tập trung vào việc bảo vệ đất nước. Việc này sẽ được chia làm 2 giai đoạn, hoàn thành cuối tháng 6 này và cuối tháng 6/2018. Đợt một gồm 10 lĩnh vực, và đợt 2 là 5 lĩnh vực còn lại.

Theo Xinhua, những thay đổi này nhằm "giảm tham nhũng trong quân đội". Nó nằm trong chiến dịch chống tham nhũng "đả hổ diệt ruồi" đã được Chủ tịch nước này - Tập Cận Bình phát động cách đây 3 năm.

Theo VNEXPRESS.

Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc bị bắt

Tướng Vương Kiến Bình, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, bị bắt ngày 25-8 với cáo buộc “vi phạm kỉ luật Đảng”, cách nói khác để chỉ tham nhũng, tờ South China Morning Post (SCMP) của Hong Kong cho biết.

Thượng tướng Vương Kiến Bình (bên trái) là nhân vật cấp cao “ngã ngựa” trong thời gian đương chức - Ảnh: Bộ Quốc phòng Trung Quốc

Nếu thông tin này được xác nhận, ông Vương sẽ là tướng cấp cao nhất của quân đội Trung Quốc bị bắt khi còn đương chức kể từ khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát động chiến dịch chống tham nhũng năm 2013.

SCMP dẫn một nguồn tin cho biết, tướng Vương, 62 tuổi, bị các kiểm sát viên quân sự bắt tại thành phố Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên trong lúc đang đi thị sát. Vợ và thư ký của ông này cũng bị bắt tại Bắc Kinh vào cùng ngày.

Su Haihui, phó giám đốc cơ quan huấn luyện cảnh sát vũ trang, cựu thư ký của ông Vương cũng bị bắt.

Theo SCMP, Vương Kiến Bình là tướng lĩnh cấp cao thứ hai của quân đội Trung Quốc bị bắt vì tham nhũng trong vài tuần trở lại đây. Người đầu tiên bị bắt là tướng Điền Tu Tứ, cựu chính ủy không quân Trung Quốc.

Vương Kiến Bình sinh năm 1953, người Hà Bắc, khởi nghiệp trong quân đội từ quân khu Thẩm Dương. Năm 2009, ông này được đề bạt giữ chức Tư lệnh lực lượng Cảnh sát vũ trang và giữ chức này đến hết năm 2014 dưới thời của “trùm an ninh” Chu Vĩnh Khang.

Cuối năm 2014, ông Vương được điều động sang giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc.

Theo một số tờ báo của Hong Kong, tướng Vương là một trong những nhân vật thân tín của cựu Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc bị “ngã ngựa”, Từ Tài Hậu. Tướng Từ qua đời vào tháng 3-2015 vì ưng thư bàng quang trong lúc các cuộc điều tra tham nhũng nhắm vào ông này vẫn chưa kết thúc.

Tờ Bưu điện Minh Kính của Hong Kong hồi năm ngoái dẫn một nguồn tin từ quân đội Trung Quốc tiết lộ, sau cái chết của tướng Từ, cơ quan chức năng bắt đầu nhắm tới ông Vương và các mối quan hệ của ông ta.

Theo Tuổi trẻ.

Những cuộc chiến ý thức hệ sắp tới của Trung Quốc


Trong kỷ nguyên của cải cách, tăng trưởng kinh tế chi phối tất cả. Nhưng giờ đây, sự hồi sinh của những tín điều đối chọi nhau đã chia rẽ xã hội Trung Hoa.

Với phần lớn người Trung Quốc, thập niên 1990 chứng kiến sự lên ngôi của chủ nghĩa thực dụng vật chất. Phát triển kinh tế là mối quan tâm chính trị – xã hội quan trọng nhất, trong khi những hệ tư tưởng nhà nước đa dạng vốn là nhân tố định hướng chính sách trong những thập niên đầu tiên của nền Cộng hoà Nhân dân lại lui dần vào hậu trường. Những cuộc đấu tranh ý thức hệ khốc liệt từng đánh dấu sự kết thúc của thập niên 1970 cũng như thập niên 1980 đã khiến dân chúng kiệt quệ, khiến họ chỉ còn háo hức chú tâm vào những cơ hội kinh tế mà trước đấy họ chưa từng biết đến.

Giờ đây, xu thế lại thay đổi. Xã hội Trung Hoa rõ ràng là đang tái khám phá, hay ít nhất là tái xếp đặt thứ tự ưu tiên, những khát vọng về đạo đức và ý thức hệ. Vài năm qua, các lực lượng cũng như sự chia rẽ ý thức hệ đã quay trở lại vị trí trung tâm trong đời sống chính trị và xã hội ở Trung Quốc, và có nhiều bằng chứng thuyết phục cho thấy tình trạng căng thẳng về ý thức hệ trong giới tinh hoa Trung Quốc hiện đang cao hơn so với bất kỳ thời điểm nào kể từ sau các cuộc biểu tình năm 1989. Hình ảnh về một nước Trung Hoa “hậu ý thức hệ” (post-ideological) đang trở nên ngày một lỗi thời.

Dù vậy, dường như khá ít nhà quan sát hay nhà hoạch định chính sách lại suy xét khả năng theo đó các nhóm tinh hoa ở Trung Quốc là những tạo vật ý thức hệ, hoặc thậm chí là họ có thể đang ứng phó với một công chúng nhuốm màu ý thức hệ. Đây là một sự thay đổi đáng chú ý với những liên đới sâu sắc dành cho công tác hoạch định chính sách. Chỉ một hay hai thập niên trước, nhiều nhà bình luận còn cảm thấy khó khăn khi phải thừa nhận rằng các chính trị gia Trung Quốc – hoặc thậm chí là những người Trung Hoa có học vấn – hoàn toàn không phải là những người theo tư tưởng cộng sản chủ nghĩa. Đầu thập niên 2000, ý tưởng theo đó các nhóm tinh hoa ở Trung Quốc không còn tin chủ nghĩa cộng sản vẫn là một ý tưởng mới mẻ, đôi khi dẫn đến thái độ hoài nghi và phản ứng trái ngược. Để so sánh, bất kỳ ai hiện nay khăng khăng cho rằng lý tưởng cộng sản vẫn chi phối quá trình hoạch định chính sách của Trung Quốc đều có nguy cơ huỷ hoại danh tiếng của mình như một người am hiểu Trung Quốc nghiêm túc.

Ý tưởng về một Trung Quốc hậu ý thức hệ ra đời như thế nào? Cách diễn giải khoan dung – và có lẽ đúng – về sự thay đổi này là nó chỉ đơn thuần phản ảnh một sự thay đổi chung về quan điểm trong xã hội Trung Hoa. Cuộc đàm luận về chính trị và xã hội ở Trung Quốc đã chuyển hướng từ những luận điểm mang màu sắc ý thức hệ sang thứ chủ nghĩa thực dụng mềm dẻo mà các cựu lãnh tụ Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân thường cổ vũ. Ở đây vẫn còn một cách diễn giải ít khoan dung hơn: sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc, đặc biệt là sự tăng trưởng bền vững của nó trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đã tạo ra một ý thức về tính dễ tổn thương và, do đó, một tâm tính hoang mang trong nhiều nhà phân tích phương Tây, những người vội đi đến – và vẫn tiếp tục tin vào – cái kết luận rằng các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc là những kẻ tối đa hoá tính hiệu dụng (utility) một cách tàn nhẫn và hiệu quả, những kẻ chuyên kiếm chác từ cái thế giới phát triển vốn mềm mại hơn, duy tâm hơn và phải chịu những ràng buộc dân chủ.

Dù với lý do gì đi nữa thì cái hình ảnh rập khuôn về thứ chủ nghĩa thực dụng Trung Quốc có lẽ cũng đã hết thời hạn sử dụng. Ở Trung Quốc ngày nay, những dấu hiệu về sự hồi sinh ý thức hệ xuất hiện khắp nơi. Rõ ràng nhất là hiện tượng một số biểu tượng, mà từ lâu người ta nghĩ là đã chết, đã hồi sinh một cách nổi bật, và trong một số trường hợp còn rất thành công, qua những phát ngôn chính trị trên bình diện quốc gia. Đầu tiên là việc khôi phục lại hình ảnh Chủ tịch Mao Trạch Đông như là thành tố cốt lõi của câu chuyện huyền thoại về sự ra đời của Đảng CSTQ cùng tính chính danh lịch sử của nó. Như một số học giả và nhà bình luận đã ghi nhận, trong vài bài phát biểu gần đây, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã coi Mao không chỉ là người cha sáng lập Đảng mà còn là một biểu tượng về cam kết của Đảng đối với chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa dân tuý. Điều này đánh dấu một sự chuyển hướng quan trọng từ lối đối xử xem nhẹ và gần như miễn cưỡng mà dường như những người tiền nhiệm của Tập, đặc biệt là Hồ Cẩm Đào, từng dành cho Mao. Thật đáng tò mò, trong khi những tín hiệu ngôn từ của Tập được bình luận ngay lập tức thì những hàm ý chính sách tiềm tàng của chúng lại phần lớn không được nghiên cứu, nếu không muốn nói là bị phủi bỏ ngay như thể chúng chẳng có gì quan trọng cả.

Mao không phải là nhân vật duy nhất được phục hồi về mặt ý thức hệ. Khổng Tử cũng đã trở thành một nhân vật ngày càng nổi bật trong những phát ngôn chính trị ở Trung Quốc. Và các nhà lãnh đạo Đảng thì thường xuyên trích dẫn các triết gia cổ đại, như Mạnh Tử, Trang Tử hay Hàn Phi. Bản thân Tập thường lập luận rằng, “để giải quyết những vấn đề của mình… [Trung Quốc cần] khai thác triệt để kho tàng minh triết vĩ đại mà đất nước Trung Hoa đã tích luỹ được trong suốt 5.000 năm qua”. Sự ủng hộ của nhà nước đối với các dự án như Học viện Khổng Tử mới ở Quý Dương (tỉnh lỵ Quý Châu, khai trương từ năm 2013) khiến những phát ngôn chính trị như thế hàm chứa một mức độ nghiêm túc nhất định và điều này đã truyền cảm hứng cho các nhà hoạt động tân Khổng giáo. Tuy nhiên, những nỗ lực nhằm truyền sức sống mới cho tư tưởng Trung Hoa cổ đại cũng khiến những bộ phận khác, mang xu hướng tự do chủ nghĩa nhiều hơn, trong cộng đồng mạng ở Trung Quốc lên tiếng báo động và bày tỏ sự khinh thị. Họ có xu hướng coi các quy tắc đạo đức xã hội của Nho giáo là lạc hậu và hẹp hòi.

Người ta dễ dàng, và có lẽ là thèm muốn, phủi bỏ những sáng kiến này như thể đó là sự tuyên truyền ý thức hệ đầy toan tính do một chính thể độc tài vốn đang phải đối mặt với tình trạng căng thẳng về kinh tế, xã hội và chính trị chưa có tiền lệ tiến hành. Chắc chắn ở đây có một sự thật nào đó; chỉ có điều là nó lại quá ư đơn giản. Thực ra, người ta cũng có thể lập luận một cách thuyết phục như thế rằng, Đảng CSTQ đã đóng một vai trò thụ động, chứ không phải chủ động: các chiến dịch ý thức hệ nhằm hồi sinh những nhân vật như Mao và Khổng phản ánh những trào lưu tư duy trí tuệ và văn hoá đã nhanh chóng giành được ảnh hưởng trong tầng lớp người Trung Hoa có học vấn cao trong năm đến bảy năm qua. Xét chiều sâu và động năng của những trào lưu này, Đảng hoàn toàn có thể sẽ tìm cách bắt kịp. Bản thân Tập dường như cũng đã thừa nhận như thế qua bài phát biểu nổi tiếng ngày 19/8/2013, trong đó ông ta cho rằng Đảng đang đối mặt với một làn sóng thách thức nghiêm trọng về ý thức hệ, và cần phải phản ứng mạnh mẽ hơn.

Hai diễn biến quan trọng nhất trong địa hạt tư duy trí tuệ ở Trung Quốc từ cuối thập niên 1990 có lẽ là sự trỗi dậy của khuynh hướng Tân Tả (“New Left”) hùng mạnh và sự phục hồi của một trào lưu tân Khổng giáo tuy thiếu tổ chức song ngày càng giành được ảnh hưởng. Khuynh hướng Tân Tả kết hợp những cảm tính dân tộc chủ nghĩa – như một bài xã luận tháng 1/2010 trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo tuyên bố, “chúng ta không muốn trở thành một thuộc địa của lối tư duy trí tuệ phương Tây” – cùng sự bất mãn rộng khắp với tình trạng bất bình đẳng kinh tế để đi đến lời kêu gọi mạnh mẽ về một cuộc “tái thiết chủ nghĩa xã hội”, và điều này sẽ dẫn tới sự phục hồi của nhiều chính sách kinh tế kế hoạch hoá thập niên 1980 cũng như việc tăng cường kiểm soát ý thức hệ đối với Internet và truyền thông. Nếu tìm hiểu thế giới tư duy trí tuệ Trung Quốc hiện nay thì những nhân vật ảnh hưởng nhất – và là những người có quan hệ gần gũi nhất với sự lãnh đạo của Đảng – thường là những nhân vật tả khuynh. Trong số này có hai nhà kinh tế học nổi bật là Wang Shaoguang (Vương Thiệu Quang) và Justin Yifu Lin, nhà khoa học chính trị Cui Zhiyuan (Thôi Chí Nguyên), và triết gia Liu Xiaofeng (Lưu Hiểu Phong).

Trái lại, các nhân vật tân Khổng giáo nhìn chung ủng hộ cả sự hồi sinh của các quy tắc đạo đức Nho giáo, chẳng hạn như sự hiếu thảo, lẫn việc phục hồi một số thiết chế chính trị truyền thống, đặc biệt là chế độ khoa cử. Mặc dù họ có xu hướng kém chính thống, song chính tính chất dễ khơi mào của thuật ngữ “Khổng giáo” trong cuộc đàm luận chính trị và trí tuệ ở Trung Quốc lại đem đến cho họ một tần suất xuất hiện khác thường trên các phương tiện truyền thông. Từ cuối thập niên 1990, những lời kêu gọi nhằm hồi sinh Khổng giáo dần dần trở nên mạnh mẽ và phổ biến; chúng tiến triển từ một trào lưu ngoài lề chịu nhiều sự chế nhạo thành một xu thế dù vẫn bị chế nhạo nhưng chắc chắn đã trở nên mạnh mẽ trên bình diện quốc gia, đặc biệt là ở cấp giáo dục tiểu học. Ví dụ, Jiang Qing (Tưởng Khánh), một nhà lãnh đạo buổi đầu của trào lưu và hiện đang điều hành Viện Nho học Dương Minh (Yangming Confucian Academy) nổi tiếng, đã trở thành một nhân vật mà gần như ai ai trong giới trí thức cũng biết đến.

Cả hai diễn biến nêu trên đều có gốc rễ từ chủ nghĩa dân tộc bài phương Tây. Từ đầu thập niên 1980 đến thập niên 2000, dân chủ, pháp trị và cải cách thị trường tự do là thứ ngôn ngữ chính trị chung không chỉ của phần lớn các nhà trí thức Trung Quốc mà còn của phần lớn giới lãnh đạo doanh nghiệp, và thậm chí cả một số quan chức, những người chí ít cũng bày tỏ sự ủng hộ bằng lời nói – và có lẽ nhiều hơn thế – dành cho những lý tưởng cháy bỏng đó. Trong giai đoạn này, các nhóm tinh hoa ở Trung Quốc dường như cùng chia sẻ sự đồng thuận rằng Trung Quốc cần Tây hoá. Cả Tân Tả lẫn tân Khổng giáo chủ yếu đều là những phản ứng tư duy trí tuệ trước sự đồng thuận đó, được thúc đẩy một phần bởi sự bất tương thích mà người ta cảm nhận được giữa tư tưởng phương Tây và thực tiễn kinh tế – xã hội – chính trị của Trung Quốc, một phần bởi sự thất vọng trước thái độ thù địch và sự phân biệt đối xử về ý thức hệ mà phương Tây dành cho Trung Quốc, và một phần bởi những tham vọng dân tộc chủ nghĩa vốn xuất hiện một cách tự nhiên cùng với sự cất cánh về kinh tế.

Gần đây hơn, các trào lưu này đã cho thấy những dấu hiệu của sự hội tụ. Tân Khổng giáo dường như đang gắn chặt với Tân Tả, và không phải là thiếu sự tương hỗ từ giới Tân Tả. Một số học giả nổi bật, đặc biệt là Gang Yang từ Đại học Tôn Dật Tiên, hiện tự coi mình vừa tả khuynh vừa theo Khổng giáo. Yếu tố then chốt của cái “nhân dạng” chung đó chính là thứ chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ mà cả hai phái ý thức hệ cùng chia sẻ, vốn cho phép các học giả này lập luận rằng các nguồn lực từ “văn hoá truyền thống” cần đóng một vai trò nổi bật trong cuộc thập tự chinh chống lại chủ nghĩa tự do phương Tây – nếu không phải như một thành tố cần thiết của cái “phương diện quốc gia” thì ít nhất cũng là một lựa chọn về mặt ý thức hệ thay cho sự khuynh loát của trí tuệ phương Tây.

Những nghiên cứu thống kê gần đây cho thấy các xu thế này vượt xa ra ngoài những ranh giới được che chắn của các trường đại học hàng đầu cũng như các trung tâm quyền lực ở Trung Quốc. Một bản phúc trình thường được trích dẫn của các nhà nghiên cứu Harvard và MIT năm 2015, chẳng hạn, chỉ ra rằng người sử dụng Internet ở Trung Quốc chủ yếu tập trung xung quanh hai thái cực: một cực “tả khuynh – Khổng giáo” vốn chủ trương hình thành một nhà nước xã hội chủ nghĩa rộng khắp, hạn chế các quyền dân sự, áp dụng chính sách đối ngoại hung hăng, và phục hồi văn hoá truyền thống; và một cực “tự do phương Tây” – hay “hữu khuynh” – ủng hộ các nguyên lý thị trường tự do, chế độ dân chủ lập hiến, các quyền tự do dân sự, hợp tác quốc tế và sự chống đối văn hoá truyền thống. Ngoài ra, mức độ đồng nhất cao trong hai phái này còn cho thấy nhận thức và cam kết về ý thức hệ đã khá sâu sắc, và ngày càng sâu sắc, ai cũng như ai.

Hiện nay, những xung đột tự do chủ nghĩa – tả khuynh dường như đang tạo sắc thái và định hình việc hấp thụ thông tin của cộng đồng mạng đối với bất kỳ tin tức phổ biến nào, từ những chủ đề địa chính trị quan trọng – chẳng hạn như chính sách ngoại giao quyết đoán mới của Trung Quốc ở Biển Đông – cho đến những vụ lùm xùm trong công chúng, như vụ xung đột hành chính gần đây tại trường Đại học Tôn Dật Tiên, trong đó một giảng viên trẻ tố cáo Gan Yang trù dập anh ta và hành hung ông.

Dĩ nhiên là ở đây có những cách giải thích khả dĩ khác về việc tại sao các trào lưu dân tộc chủ nghĩa này lại giành được ảnh hưởng. Một số người có thể lập luận rằng chúng đã lợi dụng những vấn đề kinh tế – xã hội ngày càng trầm trọng của Trung Quốc trong thập niên qua, đặc biệt là tình trạng bất bình đẳng gia tăng nhanh chóng. Một cách diễn giải đồng cảm hơn có thể là, chúng thực sự đem đến những giải pháp tiềm tàng cho một số những vấn đề này – bằng cách thúc đẩy, chẳng hạn, một tập hợp quy tắc đạo đức xã hội định hướng nhóm (group-oriented) nhằm giúp giảm bớt sự thiếu hụt rõ ràng về độ tin cậy xã hội của nền kinh tế đô thị. Số khác có thể lập luận rằng chúng thể hiện hình thức tự phản ảnh và âu lo về mặt tư duy trí tuệ (intellectual self-reflection & anxiety) vốn xuất hiện tự nhiên sau khi xã hội đạt tới một mức độ cơ bản về thịnh vượng kinh tế, và do đó chúng là một hình thức của chủ nghĩa dân tộc tầng lớp trung lưu.

Bất kể căn nguyên của nó là gì, bức tranh ý thức hệ hiện hành cũng có thể đem đến những hệ luỵ nghiêm trọng cho quá trình hoạch định chính sách của Trung Quốc: sự hồi sinh ý thức hệ làm biến đổi rất mạnh môi trường xã hội và chính trị mà ở đó Đảng và Nhà nước hoạt động. Nguồn gốc của sự chính danh trong xã hội duy vật chủ nghĩa thực dụng rất khác so với trong một xã hội mang màu sắc và bị phân cực bởi ý thức hệ. Trong khi tăng trưởng kinh tế năng động là chìa khoá để giành được sự ủng hộ của dân chúng ở hình thái xã hội thứ nhất thì điều đó lại có thể không đủ, và có lẽ còn không cần thiết, trong hình thái xã hội thứ hai. Ở thời điểm hiện tại, người ta rất không chắc chắn là bên nào – các nhà tự do chủ nghĩa, các nhà tả khuynh, hay các nhà bảo thủ văn hoá – rốt cuộc sẽ giành được thế thượng phong trong những cuộc đấu tranh ý thức hệ như thế. Nếu một phái lên ngôi, chính phủ có thể nhận thấy mình bị buộc phải (hay ít nhất là được thúc đẩy mạnh mẽ để) tìm kiếm sự chính danh chính trị – xã hội thông qua các chính sách tái phân phối, cải cách các quyền dân sự, hoặc có thể là sự chuyển hướng triệt để sang một ý niệm mới về những giá trị văn hoá truyền thống. Điều này có thể hoặc là hoạ hoặc là phúc: nó có thể đẩy đảng và nhà nước vào những vị thế ý thức hệ không lấy gì làm thoải mái, nhưng nó cũng có thể đem đến những nguồn ủng hộ xã hội trong giai đoạn có biến động về kinh tế hay địa chính trị.

Xin lấy ví dụ, chẳng hạn, phản ứng của Đảng trước phong trào Chiếm Trung Tâm năm 2014 ở Hồng Kông. Trong giai đoạn đó, một phong trào chủ yếu do sinh viên lãnh đạo đã kêu gọi tổ chức bầu cử dân chủ và độc lập chính trị nhiều hơn với Bắc Kinh. Bất chấp một số đề xuất ban đầu rằng chính phủ cần bày tỏ thái độ hoà giải chừng mực với người biểu tình vì nhiều lý do thực dụng – nhằm hạn chế tối thiểu việc gián đoạn hoạt động tài chính, sự mất uy tín trong cộng đồng quốc tế, và tổn hại trong quan hệ giữa Trung Quốc với Đài Loan – người ta sớm phát hiện ra rằng Đảng lại quan ngại về phản ứng ở trong nước đối với chiến lược của họ ở Hồng Kông nhiều hơn rất nhiều so với phản ứng của quốc tế. Tuy nhiên, phản ứng trong nước đó đôi khi lại gần như nhuốm màu dân tộc chủ nghĩa hiếu chiến. Bị khích động bởi một số ít vụ phân biệt đối xử theo lối bài đại lục của cư dân Hồng Kông, nhiều, có khi là phần lớn, cư dân đại lục có học vấn cao lại nhiệt thành ủng hộ một chính sách cứng rắn chống người biểu tình. Điều này cho phép Đảng áp dụng một lập trường phi hoà giải, song đồng thời cũng giới hạn sự lựa chọn của Đảng một cách nghiêm trọng, đưa họ đi đến một lập trường thô bạo hơn so với mức mà một số nhà hoạch định chính sách cảm thấy thoải mái.

Giống như bất kỳ hệ tư tưởng chính trị đặc thù nào, chủ nghĩa dân tộc cũng là một con dao hai lưỡi.

Trong ngắn hạn, và đặc biệt là trong những giai đoạn suy thoái kinh tế, ban lãnh đạo Đảng có thể thấy thuận tiện khi sử dụng trào lưu tả khuynh hoặc tân Khổng giáo để giành được sự ủng hộ của công chúng – mà những ngôn từ chính trị gần đây cho thấy Đảng đang nỗ lực thực hiện điều đó. Tuy nhiên, điều này lại không chắc chắn là một giải pháp dài hạn dễ chịu. Người ta chỉ cần nhìn lại sự thăng trầm ngoạn mục của Bạc Hy Lai để dẫn ra một ví dụ quan trọng mà ban lãnh đạo Đảng đã tỏ ra rất khó chịu với sự cuồng tín ý thức hệ của một số trí thức tự nhận là theo chủ nghĩa Mao. Các hệ tư tưởng tả khuynh không phải lúc nào cũng là đồng minh đáng tin cậy hơn các hệ tư tưởng tự do chủ nghĩa.

Rốt cuộc, liệu bản thân các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc có quan tâm sâu sắc đến ý thức hệ, hay ít nhất là ngày càng quan tâm sâu sắc hay không? Đúng là những quan điểm gần đây của Tập về Mao, về truyền thống văn hoá Trung Quốc và về nhu cầu thay đổi văn hoá trong giới chức chính quyền tỏ ra rất nhất quán với quan điểm của một nhà kỹ trị thực dụng. Tuy nhiên, chúng cũng rất nhất quán với cách ứng xử của một nhà bảo thủ XHCN và văn hoá đích thực, người theo đuổi các mục tiêu ý thức hệ của mình một cách chừng mực và thận trọng. Bất chấp những gì người ta nghĩ về ban lãnh đạo hiện hành, hy vọng là cái ý niệm của phương Tây theo đó nền chính trị Trung Quốc thuần tuý bắt nguồn từ chủ nghĩa thực dụng sẽ sớm biến mất.

Theo Lê Anh Hùng.

Em trai Lệnh Kế Hoạch tiết lộ bí mật động trời của Trung Quốc

Tình báo Mỹ đang thẩm vấn Lệnh Hoàn Thành, em trai cựu Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Lệnh Kế Hoạch.
Lệnh Hoàn Thành (trái) và anh trai Lệnh Kế Hoạch.

Lệnh Hoàn Thành, em trai cựu Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Lệnh Kế Hoạch, đã tiết lộ một số những bí mật diện thâm cung bí sử nhất về chính quyền và quân đội Trung Quốc, trong đó có thông tin chi tiết liên quan đến hệ thống điều khiển và trung tâm điều hành lực lượng hạt nhân – tờ Washington Freebeacon ngày 3/2 dẫn lời các quan chức tình báo Mỹ đưa tin.

Kẻ đào tẩu bị Trung Quốc truy lùng gắt gao này đã không còn xuất hiện công khai ở California từ cuối năm ngoái, ngay sau khi người anh trai Lệnh Kế Hoạch bị bắt giữ với cáo buộc tham nhũng. Các quan chức Mỹ theo dõi vụ việc tiết lộ, kể từ cuối mùa thu năm 2015, Cục Điều tra Liên bang (FBI), Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã bắt đầu thẩm vấn Lệnh Hoàn Thành tại một địa điểm bí mật ở Mỹ. Kẻ đào tẩu này được cho là đối tượng bị các điệp vụ Trung Quốc truy nã gắt gao, với mục tiêu bắt giữ hoặc thủ tiêu.

Một trong những thông tin mà tình báo Mỹ thu lượm được là quy trình vận hành vũ khí hạt nhân của giới lãnh đạo cấp cao Trung Quốc, ví như các bước chuẩn bị đối với lực lượng hạt nhân trước khi tung đòn tấn công, mã khởi động vũ khí hạt nhân… Một số bí mật khác liên quan đến giới lãnh đạo Bắc Kinh, khu phức hợp được bảo vệ nghiêm ngặt ở thủ đô được biết với cái tên Trung Nam Hải. Đây được xem là nguồn tin rất có giá trị đối với lực lượng tình báo điện tử của Mỹ, nhất là khi nó được sử dụng cho các chiến dịch tấn công tình báo mạng nhằm vào các hệ thống bảo mật của giới lãnh đạo Trung Quốc.

Theo giới chức Mỹ, Lệnh Hoàn Thành hiện đang được quản thúc dưới sự bảo vệ an ninh nghiêm ngặt, sau khi các cơ quan tình báo Mỹ phát hiện ra hoạt động của các đặc vụ ngầm Trung Quốc – những người được Bắc Kinh phái đi với nhiệm vụ truy lùng những nhân vật trốn khỏi đại lục, tháo chạy ra nước ngoài. “Quả bom” sẽ có sức công phá mạnh hơn nữa một khi ông Lệnh khai ra thông tin liên quan đến tình hình chính trị nội bộ Trung Quốc, liên quan đến số phận gần đây của Chu Vĩnh Khang, Bạch Hy Lai…, cùng với đó là các bí mật trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp, quy trình vận hành hệ thống tài chính – đầu trong và ngoài nước.

Lệnh Hoàn Thành được cho là chuồn sang Mỹ hồi mùa hè năm 2015, ngay sau khi Lệnh Kế Hoạch - người nắm giữ hơn 2.700 tài liệu mật có được từ quãng thời gian làm Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, bị bắt giữ. Lệnh Kế Hoạch đã chuyển tài liệu cho em trai, người sở hữu dinh thự trị giá 2,5 triệu USD ở Loomis, California, gần Sacramento. Việc chuyển giao thông tin mật này được xem như là một biện pháp bảo vệ an toàn cho hai người: Chúng được sử dụng như là sức ép buộc chính quyền Trung Quốc không có biện pháp mạnh nhằm vào Lệnh Kế Hoạch.
Khu dinh thự 2,5 triệu USD được cho là của Lệnh Hoàn Thành ở California. Ảnh: AP.
Phía Mỹ cho biết, ông Lệnh Hoàn Thành giữ số tài liệu này để “giữ mạng” và sẽ giao thẳng cho chính quyền Mỹ một khi anh trai bị bắt giữ. Hồi tháng 7/2015, Bắc Kinh tuyên bố truy tố Lệnh Kế Hoạch vì tội tiết lộ bí mật, nhận hối lộ, quan hệ trai gái, sử dụng cương vị cá nhân làm giàu bất chính cho người thân trong gia đình. Cựu quan chức dưới thời Chủ tịch Hồ Cẩm Đào này hiện đang bị thẩm vấn gắt gao ở Trung Quốc.

Số phận của Lệnh Hoàn Thành là một trong những điểm nhạy cảm trong quan hệ Mỹ - Trung thời gian gần đây. Tháng 8/2015, Trung Quốc đã yêu cầu chính quyền Tổng thống Barack Obama trao trả nhân vật này, nhưng chưa được Washington hồi âm, với lý do không thấy có yếu tố cấu thành phạm tội với ông này. Bắc Kinh xem vụ việc này là tội hình sự, trong khi Mỹ lại coi đào tẩu là vấn đề thuộc về tình báo, thuộc phận sự của FBI hay các cơ quan thực thi pháp luật nội địa nào đó. Chính yếu tố này khiến cho việc dẫn độ Lệnh Hoàn Thành về nước gặp khó khăn.

Phát ngôn viên Nhà Trắng, FBI, CIA và Bộ An ninh Nội địa Mỹ từ chối bình luận về thông tin mà tờ Washington Freebeacon đưa ra. Một số quan chức khác tiết lộ, nếu Lệnh Hoàn Thành được cấp quốc tịch Mỹ trong vòng vài tháng tới, thì “kẻ đào tẩu hợp pháp” thì sẽ là con cá lớn nhất từ Trung Quốc mà tình báo Mỹ “tóm” được trong suốt hơn 30 năm qua. “Đó là món quà tình báo đầy bất ngờ”, một quan chức cấp cao nói.

Theo Báo Tin Tức

Trung Quốc giải tán Bộ Tổng tham mưu và 3 Tổng cục Chính trị, Trang bị, Hậu cần

Ông Tập Cận Bình, Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương Trung Quốc
Quyền lực tập trung vào 4 Tổng cục này quá lớn và trên thực tế đã hình thành một tầng lớp lãnh đạo độc lập, làm thay quá nhiều chức năng của Quân ủy.

Nhân Dân nhật báo ngày 12/1 đưa tin, gần đây Quân ủy Trung ương Trung Quốc đã hoàn thành cơ bản việc tái cơ cấu bộ máy lãnh đạo chỉ huy các lực lượng vũ trang nước này. Chiều qua 11/1, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Ngô Khiêm tổ chức họp báo giới thiệu về cơ cấu mới của Quân ủy Trung ương.

Ngô Khiêm cho biết, theo cơ cấu lãnh đạo chỉ huy mới, 4 cơ quan cấp Tổng cục bao gồm: Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Trang bị đã hoàn thành "sứ mệnh lịch sử" của nó và được giải tán. Chức năng của 4 cơ quan này sẽ do 15 đơn vị mới trực thuộc Quân ủy Trung ương đảm trách.

15 đơn vị mới trực thuộc Quân ủy Trung ương Trung Quốc được chia thành 7 bộ, 3 ủy ban, 5 đơn vị trực thuộc, cụ thể gồm 7 bộ: Văn phòng Quân ủy Trung ương, Bộ Tham mưu liên hợp, Bộ Công tác chính trị, Bộ Hậu cần bảo đảm, Bộ Phát triển trang bị, Bộ Quản lý huấn luyện, Bộ Động viên quốc phòng.

3 ủy ban: Ủy ban Kỉ luật, Ủy ban Chính pháp, Ủy ban Khoa học công nghệ. 5 đơn vị trực thuộc bao gồm: Cục Hoạch định chiến lược, Cục Cải cách và biên chế, Cục Hợp tác quân sự quốc tế, Cục Thẩm tra kế hoạch, Cục Quản lý sự vụ cơ quan Quân ủy Trung ương.

Kể từ khi thành lập, quân đội Trung Quốc đã trải qua các mô hình cơ quan đầu não 4 Tổng cục, 8 Tổng cục, 3 Tổng cục và quay lại 4 Tổng cục. Lý do giải tán 4 Tổng cục và thành lập 15 đơn vị trực thuộc Quân ủy Trung ương thay thế được Ngô Khiêm giải thích:

Quyền lực tập trung vào 4 Tổng cục này quá lớn và trên thực tế đã hình thành một tầng lớp lãnh đạo độc lập, làm thay quá nhiều chức năng của Quân ủy Trung ương, ảnh hưởng đến lãnh đạo của Quân ủy.

Với cơ cấu bộ máy lãnh đạo chỉ huy mới, Quân ủy Trung ương và đứng đầu là Chủ tịch Quân ủy Trung ương Tập Cận Bình là người nắm quyền quản lý, chỉ huy trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội Trung Quốc, các đơn vị chủ lực trực tiếp tác chiến mà không phải thông qua quá nhiều khâu trung gian như trước.

Theo The Indian Express ngày 11/1, trong buổi lễ ra mắt 15 cơ quan mới trực thuộc Quân ủy Trung ương hôm qua, ông Tập Cận Bình nhấn mạnh, chiến thắng trong chiến tranh là nhiệm vụ trọng tâm của quân đội. Ông gọi cuộc cải cách này là một bước đột phá quan trọng để quân đội Trung Quốc mạnh hơn.

Ngoài 15 cơ quan giúp việc, Quân ủy Trung ương và Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc sẽ trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy 4 Quân chủng: hải quân, lục quân, không quân, tên lửa; 5 Chiến khu: Đông, Bắc, Tây, Nam, Trung tâm; 1 binh chủng mới được thành lập: Chi viện chiến lược.

Dưới Bộ Tư lệnh Lục quân hiện có 18 quân đoàn chủ lực với 160 ngàn quân; Dưới Bộ Tư lệnh Hải quân có 3 hạm đội. Và một điều đáng chú ý nữa, trong danh sách 15 cơ quan trực thuộc Quân ủy Trung ương không thấy nhắc đến Bộ Quốc phòng.

Trong cơ chế điều hành mới cũng không có vai trò của Bộ Quốc phòng, bởi về tác chiến, mệnh lệnh sẽ đi trực tiếp từ Quân ủy Trung ương - Chiến khu - Đơn vị thực hiện. Về huấn luyện, mệnh lệnh sẽ đi trực tiếp từ Quân ủy Trung ương - Quân chủng - Đơn vị thực hiện.

Theo Giáo dục.

Chém giết chốn cung đình


Thượng tầng triều đình Bắc Kinh đang diễn ra cuộc chiến thanh trừng phe nhóm khốc liệt. Chưa bao giờ cuộc chiến phe phái ở Trung Cộng công khai như vậy. Nó cho thấy một sự rạn nứt nội bộ nghiêm trọng trong nội bộ đảng cộng sản Trung Quốc. Nhiều nhân vật sừng sỏ bị phanh phui tội tham nhũng. Lần đầu tiên, người dân mới thấy đảng cộng sản Trung Quốc tự “vạch áo cho người xem lưng” khi họ dùng lá bài đánh tham nhũng để triệt hạ nhau. Hầu hết trong 55 “con hổ” to bị sa lưới đều thuộc vây cánh Giang Trạch Dân - từ Chu Vĩnh Khang; Lý Đông Sanh; Từ Tài Hậu; Tương Khiết Mẫn; đến Tăng Khánh Hồng…

Giang, dù không còn giữ vị trí nào trong chính trường từ năm 2002, quyền lực Giang không vì thế mất hẳn. Trong bóng tối, sau bức màn nhung, “thái thượng hoàng” không ngai Giang Trạch Dân vẫn giật dây gây ảnh hưởng sắp xếp nhân sự để củng cố quyền lực lẫn quyền lợi cho con cháu. Vì thế, Tập muốn nhắn nhủ với Giang: “Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chánh” (không còn tại vị thì đừng xía vào chính trường). Cách thức và thủ đoạn mà những “đồng chí cộng sản” “chơi nhau” không phải khó thấy.

Đầu tiên là chặt chém vây cánh. Hồ sơ tham nhũng có đầy. Vấn đề là phanh phui ai và vào thời điểm nào. Thứ hai là sử dụng mặt trận truyền thông. Ngày 10-8-2015, Nhân Dân nhật báo tung ra một xã luận đầy ngụ ý: “Nhiều vị lãnh đạo của chúng ta, một khi rời khỏi vị trí, đã hành xử đúng đắn với sự thay đổi của họ. Họ không can dự công việc của ban lãnh đạo mới. Tuy nhiên, có những lãnh đạo Đảng, khi tại chức, đã cất nhắc tay chân tín cẩn giữ những vị trí quan trọng nhằm mở rộng ảnh hưởng họ trong tương lai. Hơn nữa, sau khi những lãnh đạo Đảng này rời khỏi chức vụ, họ không sẵn lòng từ bỏ việc tạo ảnh hưởng lên những vấn đề trọng yếu”.

“Trà sẽ nguội sau khi người uống trà rời đi chỗ khác” – bài viết bóng gió, hàm nghĩa “tại sao có những người muốn trà vẫn nóng khi mà người uống trà không còn có mặt ở bàn?”.

Bài báo hẳn nhiên ám chỉ Giang. Nó xuất hiện ngay thời điểm giới lãnh đạo cao cấp Bắc Kinh chuẩn bị họp tại Bắc Đới Hà, nơi có lịch sử tổ chức các cuộc họp nội chính quan trọng nhất của Đảng cộng sản Trung Quốc, giữa tin đồn râm ran rằng Giang sẽ dùng Chu Bổn Thuận, cựu bí thư Hà Bắc, gây sức ép lên Tập. Không lâu sau khi tướng Quách Bá Hùng (Phó Chủ tịch Quân ủy trung ương) bị “trảm”, Xinhuanet.com và People.cn cũng đăng bài: “Tại sao công tố viên Pháp dám điều tra cựu tổng thống?”. Bài báo đặt ra những câu hỏi: “Có quan chức cấp cao tham nhũng nào đằng sau những kẻ tha hóa?”; “Ai “dạy dỗ” và cất nhắc những viên chức hủ bại này?”; “Những trường hợp cất nhắc này được thực hiện có chủ ý để phục vụ ai đó hay đơn giản chỉ bởi không cân nhắc thận trọng?”.

Chiêu thứ ba là dùng công cụ thông tin bán chính thống. Ngày 11-7-2015, Mingjingnews.com (“Minh Kính Tân Văn”, hải ngoại) viết về chuyện Giang Trạch Dân từng quyết định xử tử các thành viên Pháp Luân Công để mổ bán nội tạng; rằng Giang là người đứng sau Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang với âm mưu đảo chính quân sự nhằm vào Tập Cận Bình; và rùng rợn hơn: Giang từng nhiều lần lập mưu ám sát Hồ Cẩm Đào và hai lần yêu cầu Chu Vĩnh Khang ám sát Tập!

Đòn thứ tư là giảm uy tín và hạ nhục cá nhân. Ngày 21-8-2015, phiến đá ghi hàng chữ “Trung Cộng trung ương đảng giáo”, tạc từ thủ bút Giang Trạch Dân, đặt trước Trường Đảng Trung ương tại Bắc Kinh, đã bị bứng đi. Thậm chí một bài báo vào tháng 1-2015 về chuyến đi núi của Giang tại đảo Hải Nam cũng bị xóa khỏi nhiều trang mạng. Rồi chẳng phải tự nhiên mà thời gian gần đây, bỗng rộ lên loạt tìm kiếm thông tin từ các trang mạng Trung Quốc về những “tội ác” liên quan Giang Trạch Dân, đặc biệt chiến dịch thảm sát thành viên Pháp Luân Công thời Giang tại chức. Cùng lúc, có đến khoảng 160.000 đơn khiếu nại gửi đến các tòa án và phòng công tố khắp Trung Quốc liên quan sự việc! Ai kích động và giật dây chuyện này khi mà Pháp Luân Công vẫn chưa được luật pháp Trung Quốc cho phép chính thức hoạt động? Cuối cùng, chiêu thứ năm là gây sức ép lên gia đình đối tượng. Đầu năm 2015, Giang Miên Hằng, con trai Giang Trạch Dân, đột ngột từ chức khỏi Viện khoa học Thượng Hải…

Cuộc chiến khốc liệt này nổ ra mỗi lúc mỗi gay gắt khi mâu thuẫn tranh giành quyền lực lẫn quyền lợi đã lên đến đỉnh điểm và các bên không còn có thể thỏa hiệp. Phải giết nhau. Không còn cách nào khác. Điều đó cho thấy cấu trúc vững như bê tông của Đảng cộng sản Trung Quốc đã bắt đầu nứt toạc. Trên National Interest (12-11-2015), giáo sư chính trị học người Mỹ gốc Hoa, Bùi Mẫn Hân, viết rằng sự cai trị của Đảng cộng sản Trung Quốc đã đi đến giai đoạn hoàng hôn (The Twilight of Communist Party Rule in China). Bình minh sau buổi chiều tà của hôm trước sẽ trông như thế nào khó có thể đoán được nhưng trước khi đến với bình minh, thời điểm kế tiếp của chiều tà là đêm đen.

Trung Quốc bị xếp hạng chót thế giới về tự do Internet

Một bản phúc trình mới được công bố cho thấy mạng Internet đã trở nên ít tự do hơn cho hàng triệu người trên khắp thế giới trong năm 2015. Thông tín viên Richard Green của đài VOA gửi về bài tường thuật.
Người sử dụng internet tại một quán cà phê internet ở thành phố Hợp Phì, tỉnh An Huy, Trung Quốc.
Người sử dụng internet tại một quán cà phê internet ở thành phố Hợp Phì, tỉnh An Huy, Trung Quốc.

Trong bản phúc trình thường niên lần thứ 6 về quyền tự do diễn đạt trên Internet, Freedom House, một tổ chức bất vụ lợi ở Mỹ, cho biết tự do Internet đã bị sút giảm tại 32 trong số 65 quốc gia được khảo sát.

Bà Laura Reed, một nhà nghiên cứu của Freedom House cho bản báo cáo "Tự do Mạng 2015," cho biết tình trạng này phát sinh phần lớn từ việc các cơ quan tình báo được dành cho nhiều quyền hạn hơn để thực hiện những hoạt động theo dõi điện tử nhắm vào công dân của họ.

Bà Reed cho biết: "Chúng tôi nhận thấy tình trạng này thông qua việc các chính phủ ban hành những luật lệ và chỉ thị mới để nới rộng khả năng pháp lý của họ để thực hiện hoạt động theo dõi, để lưu giữ các dữ liệu của người sử dụng. Chúng tôi cũng nhận thấy sự phổ biến của các loại kỹ thuật theo dõi trên khắp thế giới, cả ở những nước dân chủ hơn lẫn ở những nước mà chính phủ đã lạm dụng những kỹ thuật đó trong quá khứ và đã dùng chúng để đàn áp những nhân vật tranh đấu nhân quyền, những nhà báo phê phán chính quyền và những nhóm khác."

Bà Reed cho hay các chính phủ cũng tăng cường những nỗ lực để loại hẳn ra khỏi Internet những nội dung mà họ cho là không phù hợp, thay vì chỉ ngăn chặn những nội dung đó. Ngoài ra, các chính phủ cũng đòi hỏi chính những công ty cung cấp dịch vụ Internet phải thực hiện việc này.

Bà Reed nói: "Và giờ đây, vì chúng tôi nhận thấy các chính phủ thật sự nhắm vào nội dung ngay tại nguồn của nó, cho nên đó là một việc hết sức đáng lo. Một mặt vì nội dung đó sẽ bị xoá bỏ vĩnh viễn, không ai có thể truy cập nó ở trong nước hay ở nước ngoài. Mặt khác, có những áp lực đi kèm đối với các công ty truyền thông xã hội, đối với các cá nhân thông qua những vụ truy tố hay những thủ đoạn hăm doạ khác. Do đó tôi nghĩ rằng điều đáng chú ý trong bản báo cáo năm nay là sự thay đổi trong cách thức thực hiện việc kiểm duyệt."

Việt Nam cũng bị xếp vào danh sách các nước không có tự do Internet.
Việt Nam cũng bị xếp vào danh sách các nước không có tự do Internet.

​66 nước được khảo sát chiếm khoảng 88% số người sử dụng internet trên thế giới. 50 nước trong số đó bỏ tù những người sử dụng vì đã phổ biến trên mạng những ý kiến về các vấn đề chính trị, xã hội – tăng đáng kể so với con số 38 nước của năm ngoái.

Trung Quốc bị xếp hạng chót về tự do Internet. Kế đến là Syria và Iran. Việt Nam cũng bị xếp vào danh sách các nước không có tự do Internet.

Trung Đông là khu vực có tự do mạng ít nhất thế giới, vì Iran tiếp tục đàn áp những nhân vật bất đồng chính kiến trên mạng và Ả rập Xê út tuyên án đánh roi và thậm chí án tử hình cho một số người phê phán trên Internet.

Các tác giả của bản báo cáo ghi nhận rằng hoạt động tranh đấu tiếp tục là lực đẩy chính cho sự nới rộng của tự do Internet và tự do diễn đạt, chẳng hạn như phán quyết có tính chất dấu mốc của Toà án Âu châu trong vụ kiện về “quyền được lãng quên,” một vụ án thoạt đầu là do các nhân vật tranh đấu Internet khởi kiện.

(VOA)

Tập Cận Bình đối mặt với tin đồn đảo chính



Được đón tiếp trọng thị trong ánh hào quang của nghi lễ hoàng gia, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã từ Anh về nước để đối mặt với một cuộc đấu đá khốc liệt trong giới lãnh đạo Đảng Cộng sản và sự chống cự lại thẩm quyền của ông đối với Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA).

Chính phủ Anh đã đặt cược lớn vào Tập, năm nay 62 tuổi, bằng cách đón tiếp ông một cách trọng thị thông qua một chuyến thăm cấp nhà nước, đồng thời đề cập đến một “kỷ nguyên vàng” trong quan hệ thương mại và tình hữu nghị giữa hai nước. Độc giả báo chí và khán giả truyền hình Trung Quốc được cho xem những hình ảnh lãnh đạo của mình cùng Nữ hoàng Anh đi trong cỗ xe ngựa kéo mạ vàng của bà.

Nhưng ngày càng nhiều chứng cứ cho thấy ông Tập – người đứng đầu nhà nước, đảng và quân đội – có thể đang gặp rắc rối chính trị. Thậm chí đã có những xì xầm về một âm mưu đảo chính chống lại ông bị ngăn chặn hồi tháng Ba, dẫn đến việc ông phải hoãn chuyến thăm Pakistan.

Thông tin này xuất phát từ những người trong bộ máy có quan hệ với giới lãnh đạo cấp cao của Đảng, và được khuếch đại khi được rò rỉ cho giới truyền thông Hoa ngữ tại Hồng Kông.

Các mối đe dọa đối với uy tín của Tập nhân lên nhiều lần sau khi thị trường chứng khoán Trung Quốc tụt dốc mạnh vào mùa hè vừa qua, nền kinh tế chậm lại và hàng ngàn cán bộ, sĩ quan quân đội ngã ngựa do chiến dịch chống tham nhũng của Tập.

Đầu tháng này, tờ Giải phóng quân báo thừa nhận sự bất đồng trong hàng ngũ lãnh đạo Đảng khi tố cáo “sự kháng cự đang ngăn chặn cải cách trong việc bổ nhiệm các cấp chỉ huy quân đội”. Các xì xầm về đảo chính được đưa ra sau khi Tập thanh trừng hai vị tướng hàng đầu là Từ Tài Hậu và Quách Bá Hùng do tham nhũng. Từ chết vì ung thư trước khi phải ra tòa.

Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí chính trị Tiền tiêu (Qianshao) của Hồng Kông, một vị tướng về hưu nói rằng Tập không thể ngon giấc vào ban đêm tại Trung Nam Hải, khu phức hợp nằm ở khu vực thành cổ Bắc Kinh. “Ông ấy lo lắng về gì ư? Thứ nhất, về quyền lực quân sự mà sự sống còn của ông phụ thuộc vào đó”, vị tướng không được xác định danh tính nói.

Một nhóm 14 tướng, bao gồm tư lệnh tất cả bảy quân khu của Trung Quốc, trước đó đã đưa ra một lời thề trung thành công khai chưa từng có tiền lệ đối với Tập.

“Việc phải chứng minh rằng Quân giải phóng ủng hộ ông ta là một dấu hiệu của cả sức mạnh lẫn sự yếu đuối”, Roderick MacFarquhar, một chuyên gia về chính trị Trung Quốc tại Đại học Harvard, nói.

Vấn đề của Tập là 134 vị tướng của Trung Quốc được bổ nhiệm bởi hai người tiền nhiệm của ông là Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào. Cả hai người này vẫn là đối thủ của Tập và dẫn đầu các phe phái chính chống lại nhóm “Thái tử đảng”của ông, gồm các con cháu của các nhà lãnh đạo cách mạng năm 1949 vốn được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi. Chiến dịch chống tham nhũng, được dẫn đầu bởi một quan chức Đảng nghiêm khắc tên là Vương Kỳ Sơn, đã gặp phải sự kháng cự quyết liệt.

“Rủi ro đối với Tập là ông đang phải đối diện hàng chục gia đình, những người cảm thấy họ đã đóng góp cho việc xây dựng Trung Quốc nhưng giờ đang đối mặt với khả năng mất đi tài sản, địa vị, và vị trí của họ trong lịch sử”, MacFarquhar nói.

Nhiều công việc của chính quyền đã chậm lại hoặc dừng hẳn do các quan chức trung cấp bắt đầu lo sợ không dám ra quyết định và phẫn nộ với thực tế rằng giờ họ không thể nhận hối lộ nữa. Một số nhà phân tích tin rằng nếu chiến dịch vẫn tiếp diễn như vừa qua, tinh thần của Đảng có thể sụp đổ, kéo theo sức mạnh tổ chức của nó. Tờ Minh Kính (Mingjing) của Hồng Kông trong báo cáo mới nhất của mình về vấn đề này nói rằng: “Rủi ro lớn nhất là Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn sẽ bị giết”.

Trở về Trung Quốc ngày hôm qua, Tập phải đối mặt với một cuộc họp Đảng khó khăn vào ngày mai, nơi mà tại đó sự chia rẽ không hề dấu diếm giữa ông và Thủ tướng Lý Khắc Cường về tình hình nền kinh tế sẽ được đặt lên bàn thảo luận. Hội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 18 sẽ đề ra kế hoạch năm năm tiếp theo. Trong thực tế, một cuộc tranh cãi kịch liệt đã nổ ra trong dàn lãnh đạo Đảng về sự lao dốc của thị trường chứng khoán và hậu quả của nó. Hội nghị đã bị trì hoãn vì những căng thẳng này.

Trong cuộc khủng hoảng đó, Tập được cho là đã đập bàn và hét vào mặt Thủ tướng Lý là phải khắc phục được thị trường, nếu không sẽ bị “trảm” (nguyên văn: fix the market or come back with his head on a plate). Sau đó, ông ra lệnh cho nhà nước can thiệp để hỗ trợ giá cổ phiếu và bảo vệ hàng triệu các nhà đầu tư nhỏ lẻ khỏi mất tiền. Các quan chức đe dọa trừng phạt các hãng tài chính. Các nhà báo Trung Quốc nói rằng phe của Thủ tướng đã trả đũa bằng cách rò rỉ cho báo giới Hồng Kông rằng “cải cách kinh tế đã đi vào ngõ cụt”.

Người dân Trung Quốc đã không ai đọc được điều này trên báo chí do nhà nước kiểm soát, vốn đăng toàn tin tức về các diễn biến chuyến thăm hoành tráng của Tập ở Anh. Không tờ nào đề cập đến một thực tế là Nữ hoang đã tránh sử dụng cụm từ “kỷ nguyên vàng” trong bài diễn văn của bà tại buổi quốc yến dành cho Tập.

MacFarquhar, người có quan hệ gần gũi với Nhà Trắng, nói rằng chính phủ Mỹ đã không thể tin nổi sự trọng thị mà nước Anh dành cho nhà lãnh đạo Trung Quốc. “Họ sẽ phải cân nhắc lại toàn bộ tầm nhìn của họ về nước Anh “, ông nói.

Theo Nghiên cứu quốc tế.

Có tin được lời "đường mật" của Trung Quốc?

                            Tướng Trung Quốc Phạm Trường Long (Fan Changlong) REUTERS/Jason Lee

Bắc Kinh tìm cách giảm căng thẳng trên Biển Đông, qua tuyên bố của một viên tướng rằng Trung Quốc sẽ tránh dùng vũ lực, vào lúc Hoa Kỳ chuẩn bị điều các chiến hạm đến gần các đảo nhân tạo mà Bắc Kinh đang xây ở khu vực Trường Sa.

Tại Diễn đàn An ninh Hương Sơn ( Xiangshan ) ở Bắc Kinh hôm nay, 17/10/2015, tướng Phạm Trường Long ( Fan Changlong ), phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, cam kết là Bắc Kinh sẽ « không bao giờ dùng vũ lực một cách thiếu thận trọng, cho dù trên những vấn đề chủ quyền ». Viên tướng này còn khẳng định là Trung Quốc sẽ « làm hết sức mình để tránh những cuộc xung đột không lường trước ». 

Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc còn tuyên bố là các dự án xây đảo nhân tạo ở khu vực Trường Sa chủ yếu là nhằm mục đích dân sự và « sẽ không ảnh hưởng đến tự do lưu thông trên Biển Đông ». Ngược lại, theo tướng Phạm Trường Long, các dự án bồi đắp đảo sẽ giúp « cung cấp những dịch vụ tốt hơn để hỗ trợ lưu thông và sản xuất ở Biển Đông ». 

Hoa Kỳ vẫn cho rằng các đảo nhân tạo mà Bắc Kinh đang xây ở Biển Đông đe dọa tự do lưu thông hàng không và hàng hải ở khu vực này. Các quan chức quốc phòng của Mỹ trong thời gian qua cho biết Washington trong những ngày tới hoặc những tuần tới sẽ điều các chiến hạm đi vào trong phạm vi 12 hải lý chung quanh các đảo nhân tạo đó, để tỏ cho thấy là họ không công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở khu vực này. 

Cách đây vài ngày tại Washington, Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter đã tuyên bố là Hoa Kỳ sẽ « tiếp tục lưu thông tại bất cứ nơi nào mà luật pháp quốc tế cho phép ». 

Bắc Kinh vẫn nhiều lần khẳng định các đảo nhân tạo chỉ được sử dụng vào mục đích dân sự, những các hình ảnh vệ tinh do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược CSIS cung cấp cho thấy là trên các đảo đó, Trung Quốc đã xây đến 3 phi đạo, có thể được sử dụng cho các chiến đấu cơ phản lực, và điều này gây lo ngại về ý định thật sự của Bắc Kinh. 

Phản ứng về tuyên bố của tướng Phạm Trường Long tại diễn đàn Hương Sơn hôm năy, Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia công nhận là tuyên bố đó trấn an mọi người, nhưng theo ông, cách tốt nhất để giải tỏa những mối quan ngại đó là thiết lập Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông COC. Từ nhiều năm nay, các nước ASEAN vẫn kêu gọi Trung Quốc thương lượng đến đạt đến một bộ quy tắc ứng xử, có tính chất bắt buộc thi hành, để ngăn ngừa những hành động dẫn đến xung đột vũ trang ở Biển Đông.

Theo RFI.

‘Gián điệp mạng TQ’ xâm nhập website Tòa án Trọng tài La Haye


Một báo cáo mới cho biết website của Tòa án Trọng tài Thường trực tại La Haye đã bị mất kết nối với Internet trong lúc đang diễn ra phiên tòa kéo dài một tuần về tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông.

Vụ việc xảy ra hồi tháng 7 trong khi Phillippines thách thức tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với 80% Biển Đông mà Manila nói là lấn chiếm vùng đặc quyền kinh tế của mình.

ThreatConnect, một công ty an ninh của Mỹ, đã phân tích phần mềm và cơ sở hạ tầng được sử dụng và cho biết rằng website của tòa án đã bị nhiễm phần mềm độc hại do ai đó ở Trung Quốc cài vào. Trung Quốc không tham gia phiên tòa ở La Haye.

Theo ThreatConnect, những tin tặc đã cài vào trang web của tòa án trọng tài về vụ kiện một đoạn mã làm nhiễm độc máy tính của những ai ghé vào đọc trang này. Điều này khiến các nhà ngoại giao, các luật sư và các nhà báo quan tâm tới vụ việc có nguy cơ bị đánh cắp thông tin, và rộng hơn nữa là những tổ chức nơi họ làm việc.

“Giống như đánh cá bằng lưới vậy,” giám đốc tình báo của ThreatConnect nói.

“Tôi thả lưới lớn xuống biển, tôi vớt cá lên sau vài tiếng đồng hồ, và khi đó tôi có thể chọn ra một số con cá bị nhắm mục tiêu mà tôi muốn có.”

Hãng tin Bloomberg dẫn lời phát ngôn viên của Tổng thống Philippines Benigno Aquino, Abigail Valte, người có mặt ở La Haye, cho biết bà có nghe nói về vụ tấn công. “Chúng tôi đã ngạc nhiên về việc này,” bà Valte nói.

Ngoài việc tăng cường sự hiện diện quân sự, Trung Quốc cũng đang đẩy mạnh hoạt động do thám trên mạng như một mặt trận mới trong tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.

Có những dấu hiệu khác về những vụ tấn công mạng xảy ra ở những nước vào những lúc có căng thẳng với Trung Quốc.

Khi Trung Quốc kéo giàn khoan dầu vào vùng biển mà Việt Nam tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế của mình, đưa đến những cuộc biểu tình chống Trung Quốc gây chết người và các cuộc đụng độ trên biển, những vụ tấn công mạng nhắm vào những mục tiêu của chính phủ Việt Nam cũng gia tăng, theo công ty an ninh Crowdstrike.

Nhà chức trách Việt Nam cho biết nước này đã chứng kiến sự gia tăng những vụ tấn công mạng nhắm vào những website của chính phủ, với hơn 3.000 cuộc tấn công phá hoại bên ngoài và hơn 5.000 cuộc tấn công bằng phần mềm độc hại trong nửa đầu năm nay.

Theo VOA. 

Tiết lộ động trời về "Kẻ có thể đánh bại Trung Quốc"

10 NƯỚC TẠO THÀNH NGUY CƠ LỚN NHẤT VỚI TRUNG QUỐC


La Khắc Hòa(Dịch)


10 nước tạo thành nguy cơ đối với Trung Quốc
10 nước tạo thành nguy cơ đối với Trung Quốc
(VHNA): Chúng tôi giới thiệu nội dung một bài viết trên http://www.cnfol.com, một trang Web của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ở tỉnh Phúc Kiến, được nhiều hãng truyền thông của Đảng Cộng sản Trung Quốc bảo trợ.

Trích dịch từ bản được lưu giữ trong Blog cá nhân là một dịch giả người Nga.


SỐ 10: PHILIPPINES:

  • Nguy cơ: 7 điểm
  • Thực lực: 4 điểm
  • Tổng điểm: 5,5 điểm

- Bằng chứng: Người Mỹ đã giải phóng Philippine. Hiện nay Philippine là đồng minh trung thành nhất của Mỹ ở Đông - Nam châu Á. Ngoài ra, Philippine chưa bao giờ từ bỏ ý đồ giành lại các hòn đảo phía Nam của Trung Hoa, họ liên tục chiếm đóng một phần quần đảo Hoàng Sa. Súng đạn của Philippine thường xuyên bắn vào ngư dân Trung Quốc, cờ của Philippines lúc nào cũng bay phấp phới trên lãnh thổ Trung Hoa. Philippine là đất nước mà trung Hoa chưa bao giờ dám coi thường. Những đảo Trường Sa hay Hoàng Sa là một quần đảo nằm ở phía tây - nam của Biển Nam Trung Hoa (Việt Nam gọi là “Biển Đông”), gồm hàng 100 đảo nhỏ, bãi san hô, đá ngầm, tổng diện tích của chúng không dưới 5km2. Diện tích chung của toàn khu vực lên tới trên 400 nghìn km2, điểm trung tâm của khu vực này cách các đảo Palawan và Kalimantan 400 km, cách bờ biển Việt Nam 500 km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 1000km. Lãnh thổ của các đảo này này lúc nào cũng là đối tượng tranh chấp trực tiếp của 6 quốc gia Trung Quốc, Việt Nam, Malaisia, Philippine và Brunei

SỐ 9: INDONESIA:

  • Nguy cơ: 7 điểm
  • Thực lực: 5 điểm
  • Tổng điểm: 6 điểm

- Bằng chứng: Mỗi khi nhớ lại cuộc nổi loạn của người Trung Quốc (vào những năm 60 của thế kỷ XX, dưới khẩu hiệu đấu tranh chống c ác phần từ cực đoan đỏ, ở Indonesia đã diễn ra nạn diệt chủng với Hoa kiều, để phản đối, người Trung Hoa đã tổ chức những cuộc xuống đường mang tính đại chúng rất rầm rộ và họ từng bị đàn áp một cách dã man.- Chú thích của dịch giả người Nga), bao giờ người ta cũng nghĩ tới cảnh các cửa hàng Trung Quốc bị dân Indonesia cướt bóc, những phụ nữ Trung Quốc bị cưỡng hiếp, những người họ hàng Trung Hoa bị đánh đập giống như súc vật trong lò mổ. Tất nhiên chính phủ Trung Quốc không thể bày tỏ công khai những gì sục sôi trong tình cảm của người dân. Indonesia là đất nước đông dân nhất vùng Đông - Nam châu Á (thống kê dân số đến năm 2008, Indonesia có trên 235 triệu người), phạm vi ảnh hưởng của Indonesia vô cùng rộng lớn và đại đa số dân cư ở đây đều không có thiện cảm với người Trung Hoa, nhưng đất nước này lại chưa được văn minh hoá đến cùng, và đây chính là nguyên nhân tạo ra nguy cơ lớn đối với Trung Quốc ở Đông - Nam châu Á.

SỐ 8: AUSTRALIA:

  • Nguy cơ: 7 điểm
  • Thực lực: 6 điểm
  • Tổng điểm: 6,5 điểm

- Bằng chứng: Australia là đại bản doanh phương Nam - cơ quan đầu não của quân đội Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bìng Dương (ATP). Australia ở phía Nam, Nhật Bản ở phía Bắc làm thành đường vòng cung kẹp chặt Trung Quốc vào giữa. Nước này là đồng minh trung thành của Mỹ, sẵn sàng chia sẻ các giá trị Mỹ và nhân loại. Sự tồn tại của Australia là trở ngại lớn cho sự phát triển của Trung Quốc ở châu Á - Thái Bình Dương. Trong những năm gần đây, Mỹ ngày càng cho phép Australia can dự nhiều hơn vào những công việc xa lạ, mà tình huống ở Đông Timor là ví dụ tiêu biểu. Đông Timor (Timor - Leste) là quốc gia thuộc Đông - Nam châu Á, bao gồm nửa phía đông của đảo Timor, những đảo lân cận của Atauro, Jaco và Oecussi - Ambeno, cùng một phần nằm ở tây bắc của đảo, trong Tây Timor của Indonesia. Những va chạm bắt đầu xẩy ra vào ngày 16 tháng 3 năm 2006 giữa những cựu binh phục vụ trong quân đội với lực lượng cảnh sát, về sau ngày càng trở nên căng thẳng, rồi dẫn tới những vụ nổ súng khắp nơi, làm sụp đổ cả chính quyền, cơ quan an ninh, gây nên tình trạng tội phạm và bạo loạn tràn lan. Nhờ có lực lượng gìn giữ hoà bình từ Australia, New Zealand, Malaisia, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều nước khác, trật tự mới được vãn hồi, nhưng tình hình Đông Timor cho đến nay vẫn luôn luôn căng thẳng.

SỐ 7:VIỆT NAM:

  • Nguy cơ: 8 điểm
  • Thực lực: 5 điểm
  • Tổng điểm: 6,5 điểm

- Bằng chứng: Tuy có 1000 năm Bắc thuộc bị Trung Hoa đô hộ và hàng 100 năm nay vẫn tiếp tục làm chư hầu của Trung Quốc, được Trung Quốc bảo trợ, nhưng Việt Nam lúc nào cũng nhìn đất nước này qua rãnh ngắm của điểm xạ kích. Tóm lại, Việt Nam nhận vũ khí, lương thực, thực phẩm do Trung Quốc trợ giúp, nhưng khi Trung Quốc trở mặt, lương thực ấy, vũ khí ấy được sử dụng để đánh lại người lính Trung Quốc. Việt Nam hiện chiếm giữ quá nửa quần đảo Trường Sa. Những tranh chấp về chủ quyền trên Vịnh Bắc bộ khiến quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc trở nên căng thẳng. Dọc biên giới đường bộ giữa Trung Quốc và Việt Nam cũng chưa có lúc nào được bình yên.

SỐ 6: NAM TRIỀU TIÊN:

  • Nguy cơ: 7 điểm
  • Thực lực: 7 điểm
  • Tổng điểm: 7 điểm

- Bằng chứng: Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) chỉ mới có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc trong vòng 10 năm nay. Đây là đất nước có nền kinh tế phát triển, có trình độ văn hoá cao và thường xuyên xung đột với Trung Hoa. Có thời Nam Triều Tiên bị Trung Quốc xâm lược, trở thành một phần của Trung Quốc, có thời hoà hiếu với Trung Quốc. Rất may là Trung Quốc giữ được Bắc Triều Tiên ở vị trí đối kháng với Nam Triều Tiên, và Nam Triều Tiên cũng chưa có đủ thực lực để chống lại Trung Quốc. Nhưng là đồng minh thân cận của Mỹ, chẳng hiểu Hàn Quốc đang trù định, ấp ủ những kế hoạch gì trong mối quan hệ với Trung Quốc. Và nếu bán đảo triều Tiên thống nhất, thì sự thống nhất ấy liệu sẽ phương hại cho Trung Quốc như thế nào. Liệu Nam Triều Tiên có tấn công Trung Quốc hay không và họ sẽ tấn công như thế nào?

SỐ 5: ẤN ĐỘ:

  • Nguy cơ: 9 điểm
  • Thực lực: 7 điểm
  • Tổng điểm: 8 điểm

- Bằng chứng: Từ khi chế tạo được vũ khí hạt nân, Ấn Độ có tham vọng trở thành một cường quốc. Cho đến nay, nước này vẫn thèm thuồng nhòm ngó vùng Tây Tạng và vẫn tiếp tục chiếm đóng một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Đồng thời, Ấn Độ còn muốn giành giật vai trò quan trọng của một cường quốc tại vùng biển Nam Trung Hoa và có ý đồ chia cắt vùng biển thuộc lãnh thổ của nước láng giềng thành nhiều phần nhỏ. Trước một cường quốc hạt nhân, một Ấn Độ tham lam 100%, liệu Trung Quốc có cần đề phòng?

SỐ 4: MỸ:

  • Nguy cơ: 7 điểm
  • Sức mạnh thực tế: 10 điểm
  • Tổng điểm: 8,5 điểm

- Bằng chứng: Mỹ đích thị là một cường quốc đứng cao hơn tất cả các nước còn lại, là “anh cả của phe tư bản” (tương đương với danh hiệu “anh cả Liên Xô” trước kia trong phe xã hội chủ nghĩa), là “sen đầm quốc tế” có tham vọng quay lại “thời hoàng kim xưa kia”. Mỹ đối nghịch với Trung Quốc. Mỹ có hệ thống xã hội dân chủ hoàn thiện nhất thế giới, có quân đội hùng mạnh và một nền kinh tế phát triển nhất thế giới, là quốc gia thống trị toàn cầu. Vấn đề Đài Loan vốn đã là vấn đề thường xuyên gây ra mốibất hoà giữa Mỹ và Trung Quốc, lại thêm sự níu kéo của các lợi ích kinh tế, quan hệ giữa hai nước ngày càng trở nên phức tạp. Câu thần chú quen thuộc của Mỹ với Trung Quốc: “vừa chơi, vừa kìm hãm”. Đối diện với “hoàng đế - bá quyền”, Trung Quốc phải lựa chọn cách ứng xử thế nào?

SỐ 3: NGA:

  • Nguy cơ: 10 điểm
  • Sức mạnh thực tế: 8 điểm
  • Tổng điểm: 9 điểm

- Bằng chứng: Xưa kia, Trung Hoa là đế quốc hùng mạnh nhất thế giới. . Nhưng một nước vô liêm sỉ khác đã chiếm đoạt của Trung Quốc những vùng lãnh thổ rộng lớn. Cái nước vô liêm sỉ ấy chính là Nga. Người ta chẳng coi nền kinh tế của Nga ra gì. Nhưng đó là lại đất nước có lực lượng vũ trang quân sự hùng hậu mà không một ai dám coi thường. Nga khi thì xích lại gần Trung Quốc, lúc lại bỏ lơi Trung Hoa để bắt tay với châu Âu và Mỹ. Điều đó chứng tỏ, trong bất kỳ tình huống nào, Nga cũng muốn tìm cho mình phần lợi ích tối đa. Nga là đất nước đáng sợ nhất. Liệu Nga rồi sẽ cất cánh bay cao hay bị suy thoái? Liệu còn bao nhiêu thứ mâu thuẫn, xung đột vẫn còn giữ nguyên vẹn dọc theo tuyến biên giới dài vô tận giữa Nga và Trung Quốc?

SỐ 2: NHẬT BẢN:

  • Nguy cơ: 10 điểm
  • Sức mạnh thực tế: 9 điểm
  • Tổng điểm: 9,5 điểm

- Bằng chứng:Trung Quốc và Nhật Bản là những quốc gia mà ở đó, sự thù nghich và tình hữu nghị lúc nào cũng bện kết vào nhau, những quốc gia từng bao đời khinh miệt lẫn nhau. Đó là những quốc gia có thứ văn tự rất giống nhau, mỗi khi nghĩ về nhau, người ta đồng thời vừa thấy hân hoan, lại vừa thấy lộn mửa. Nền kinh tế của Nhật Bản rất phát triển, sức mạnh quân sự của Nhật Bản sẵn sàng ứng phó với tất cả. Trong một quãng thời gian cực ngắn, Nhật hoàn toàn dư sức chế tạo ra vũ khí hạt nhân! Ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước, bí mật vũ khí nguyên tử của Mỹ bị đánh cắp, mọi người ở thế hệ ấy đều nghĩ, thủ phạm vụ trộm cắp này không phải là Liên Xô, mà là người Nhật, nhưng Mỹ chưa bao giờ dám trách cứ, hay than phiền người Nhật về vụ ấy. Hiện nay Nhật Bản có vũ khí hạt nhân hay không? Đó là cả một vấn đề lớn. Liệu kinh tế có thể trở thành mắt xích bện kết Trung Quốc với Nhật Bản hay không và cần phải giải quyết vấn đề về sự thù hận giữa hai dân tộc thế nào?

Hàng nghìn năm nay, người Nhật là bầy sói nhìn Trung Quốc một cách thèm thuồng, không ngừng la hét phải xâm lược và tiêu diệt dân Trung Hoa, dời thủ đô về Bắc Kinh, chinh phục châu Á, ước mơ xây dựng một “khu Đông Á thịnh vượng”. Thời chiến tranh thế giới lần thứ II, Nhật Bản ra sức tuyên truyền khẩu hiệu “Châu Á của người châu Á” và tuyên bố sẽ giải phóng các dân tộc châu Á thoát khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thuộc địa chấu Âu, trước hết là của Anh và Pháp. Nhưng cuộc đấu tranh với chủ nghĩa thuộc địa phương Tây luôn luôn gắn liền với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc vô cùng tàn độc của chính người Nhật. Vụ thảm sát Nam Kinh năm 1937 và cũng như việc tập trung phụ nữ của các nước lệ thuộc Nhật để thành lập cái gọi là “những tiểu đoàn thư giãn” (“confort bataillon”) là ví dụ tiêu biểu.

SỐ 1: TRUNG QUỐC:

  • Nguy cơ: 10 điểm
  • Sức mạnh thực tế: 10 điểm
  • Tổng điểm: 10 điểm

- Bằng chứng: Trung Quốc bị ai đánh bại trong hai cuộc chiến tranh nha phiến (hai cuộc chiến tranh do Anh và Pháp châm ngòi chống lại đế quốc Trung Hoa, cuộc thứ nhất: 1840 - 1842, cuộc thứ hai: 1856 - 1860)? Người Anh chăng? Hay Trung Quốc tự làm cho mình thất bại? Trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật 1894 - 1895, chẳng phải Trung Quốc đã đả bại chính mình hay sao? Nào, người Nhật hay người Trung Quốc? Vì sao trong thời kỳ chiến tranh, Nhật có thể chiếm một vùng lãnh thổ rộng cả đất đai của Trung Quốc? Lịch sử chứng tỏ, Trung Quốc bao giờ cũng là kẻ thù của chính mình! Hành động điên khùng của những phần tử theo chủ nghĩa dân tộc - ly khai, vị trí của Ban - Thiền Đạt Lai Lạt Ma. Thêm vào đó là vấn đề eo biển Đài Loan, những tư tưởng được tuyên truyền, nhồi sọ cho dân chúng từ các đời Tổng thống Tưởng Giới Thạch, Lý Đăng Huy, Trần Thuỷ Biển. Ở Đài Loan vẫn còn nhiền phần tử ly khai muốn dựng một bức trường thành ngăn cách con cháu với đất mẹ đại lục.

Bọn tham nhũng và quan chức biển thủ công quỹ ngày càng ngông cuồng, những khối tài sản khổng lồ của quốc gia bị ăn cắp, ăn cướp trắng trợn, nạn mua bán quan chức ở cả những vị trí chóp bu, những hành vi đồi bại của lũ người ấy, tiền của chiếm đoạt của nhân dân được chuyển ra nước ngoài với khối lượng khổng lồ vượt quá sức tưởng tượng của con người. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, trong vòng 20 năm, từ khi thực hiện chính sách “mở cửa” vào năm 1984 cho đến nay đã có trên 6000 quan chức cao cấp và đại diện của chính quyền ăn cắp, tham ô công quỹ, tài sản của nhân dân và đất nước hơn 1 nghìn 400 tỉ nhân dân tệ (gần 200 tỉ đô la). Số tài sản ấy được “tư nhân hoá”, rồi được bí mật chuyển ra nước ngoài, sau đó, người chạy theo của, và đến bây giờ thì lũ trộm cắp ấy sống như vua chúa ở các nước Âu -Mỹ, tự xem mình là những bậc anh hùng. Ngoài ra, người ta còn được biết, có tới 7000 quan chức bình thường và 26000 nhân vật giàu có đã chuyển ra nước ngoài hơn 3 nghìn 400 tỉ nhân dân tệ (gần 500 tỉ đô la) và sau đó ra nước ngoài sống. Ngay trong nước, hiện nay vẫn có rất nhiều kẻ tham nhũng chưa bị phát hiện, vẫn sống tự do, thậm chí đang giữ chức vụ rất cao trong guồng máy quan chức nàh nước. Có cả một thế hệ tham nhũng mới đang “kế tục” lớp người tham nhũng trước kia tiếp tục bòn rút tài sản quốc gia, chuyển ra nước ngoài những khoản tiền khổng lồ, mà tổ chức chính trị - hành chính của Trung Quốc thì không có đủ sức mạnh để trừng trị bọn chúng, nên nhân dân Trung Quốc càng ngày càng mất niềm tin vào các cơ quan công quyền và các đại diện của đảng cộng sản Trung Hoa.

Trong xã hội Trung Quốc đang diễn ra sự chia rẽ theo ba tuyến. Sự bất bình đẳng giữa người giàu và người nghèo, sự phân chia thành hai giai cấp rõ rệt, tội phạm hoành hành, kinh doanh điêu trá, cờ bạc, nghiện hút, công nhân thất nghiệp, vấn đề tổ chức lao động, nạn đĩ điếm mại dâm, khủng hoảng tài chính, nhiều vùng lãnh thổ vẫn nghèo túng và lạc hậu đến mức dân chẳng đủ ăn như trước kia. Trên khắp đất nước, ở mọi lĩnh vực, chỗ nào cũng nhung nhúc lũ “bất tài” hôi tanh đến tởm lợm, người tài đức bị lừa bịp, ma quỷ hiện hình nơi “đường ngang ngõ tắt” của bọn mafia, chúng thống trị cả một “thế lực đen” và lũ lưu manh rất hùng hậu. Trên khắp cả nước, chỗ nào cũng thấy lấp lánh ảnh hưởng của công chức, của tư bản thương mại, ai cũng nhìn thấy hiện tượng móc ngoặc giữa quan chức, lưu manh và công an, cảnh sát.Trong việc tuyển lựa công chức, chỗ nào cũng lúc nhúc “con cháu các cụ”, cảnh mua bán, đút lót diễn ra công khai. Đâu đâu cũng có chuyện bợ đỡ, nịnh hót, sự lường gạt, lừa bịp nhằm len lỏi vào hệ thống công quyền ngày càng trắng trợn, dữ dội. Trên khắp nước Trung Hoa, trong mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực hoạt động giờ chỉ có “cán bộ - con nghiện”, “cán bộ - kẻ cắp”, “cán bộ - bị cuồng vì thành tích”, “cán bộ - tầm thường”, “cán bộ - mua bán đất nước mình” và những kẻ bội tín phản phúc. Chúng đi thành hàng hàng lớp lớp, thành “đội gián điệp thứ năm tuyệt hảo” để các quốc gia thù địch sai bảo.

Tương lai của Trung Quốc là thế nào? Hãy ngắm lại mình trước khi nhìn người khác. Lịch sử đã chứng minh, nếu có ai đó đánh bại Trung Hoa, kẻ đó chỉ có thể là người Trung Quốc.

Người dịch: LKH



Nguồn: “Inoфорум”,

http://www.inoforum.ru/inostrannaya_pressa/10_stran_predstavlyayuwih_naibolshuyu_ugrozu_dlya_kitaya/

Theo: Vanhoanghean

TƯ LIỆU VỤ KIỆN GIỮA PHILIPPINES VÀ TRUNG QUỐC VỀ TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG TẠI TOÀ TRỌNG TÀI

                                              

Ngày 22/1/2013 Philippines nộp bản Thông báo và Tuyên bố khởi kiện để khởi kiện Trung Quốc trước Toà Trọng tài về “Thẩm quyền trên các vùng biển của Philippines đối với Biển Tây Philippines” theo các quy định của Phụ lục VII Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Trong Tuyên bố khởi kiện của mình, Philipppines đã đưa ra 13 điểm nội dung yêu cầu Toà Trọng tài xem xét, liên quan đến một loạt các vấn đề pháp lý khác nhau trên Biển Đông. Ngày 19/2/2013, Trung Quốc đưa ra Công hàm “Quan điểm của Trung Quốc đối với các vấn đề ở Biển Nam Trung Hoa” từ chối tham gia vụ kiện và trả lại bản Thông báo của Philippines. Mặc dù Trung Quốc từ chối tham gia vào tiến trình trọng tài, Toà trọng tài vẫn tiếp tục xem xét vụ việc và Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) đã được chọn làm Ban thư ký cho tòa trọng tài trong vụ kiện này.

Vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc về tranh chấp trên biển Đông là một vụ kiện đáng chú ý ở nhiều khía cạnh. Đây là lần đầu tiên tranh chấp Biển Đông được đưa ra một cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế, cụ thể là trước Toà Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS). Đây cũng là một bước đi được đánh giá là khá táo bạo và mạnh mẽ của Philippines, trong bối cảnh các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc, thường có xu hướng sử dụng các biện pháp ngoại giao để giải quyết tranh chấp của mình.

Bộ tư liệu về vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc được lập ra nhằm chọn lọc một số tư liệu tiêu biểu và liên quan trực tiếp đến vụ kiện nhằm cung cấp cho độc giả một cái nhìn tổng quát và đầy đủ nhất về diễn biến vụ kiện cho đến nay. Bộ tư liệu cũng mong muốn cung cấp các quan điểm, lập trường đang tồn tại xung quanh vụ kiện cũng như các tài liệu phân tích các khía cạnh khác nhau của vụ kiện, tạo cơ sở để độc giả có thể có những nghiên cứu sâu hơn về vụ kiện này.

Đọc hồ sơ trực tuyến tại đây:  Tài liệu Philippin kiện Trung Quốc

Theo Đại Sự ký Biển Đông.

ASEAN nhu nhược trước Trung Quốc về vấn đề Biển Đông?

Giữa lúc cuộc tranh chấp Biển Đông trở thành điểm nóng có nguy cơ bùng nổ, ASEAN đã làm gì? Không làm gì cả!

Đó là câu hỏi và câu trả lời của một bài viết đăng ngày hôm nay trên báo Sydney Morning Herald với tựa đề 'Trung Quốc cần thấy phản ứng quyết liệt hơn từ Australia và Hoa Kỳ'.


Người Philippines xuống đường biểu tình phản đối các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, ngày 24/7/2015.

Theo tác giả bài báo này, chủ biên tin tức quốc tế của báo Sydney Morning Herald, Trung Quốc đơn giản đã làm ngơ ASEAN và xúc tiến kế hoạch của họ. Một nhà phân tích chiến lược Ấn Độ, ông Brahma Chellaney mô tả đây là ‘một cuộc xâm lược lén lút’ của Trung Quốc.

Một chuyên gia quốc phòng của Australia cũng bày tỏ nghi ngờ về quyết tâm của chính phủ Mỹ. Giám Đốc điều hành Viện Chính sách Chiến lược Úc Peter Jennings, người đóng vai trò chủ chốt trong việc thảo Sách Trắng quốc phòng, nói với báo The Australian rằng Hoa Kỳ và các đồng minh của Mỹ, trong đó có Australia, dường như đã đánh mất quyền kiểm soát cơ bản ở Biển Đông.

Theo ông Jennings, việc Trung Quốc tiếp tục những hoạt động xây dựng trên các đảo và bãi đá trong Biển Đông và không thực sự gặp hành động cụ thể nào từ phía Mỹ, là 'lần thứ nhì chính phủ Mỹ đã để mất sự tập trung về vấn đề này’.

Ông Jennings nói Hoa Kỳ và Australia đã để phí thời gian trước các hành động xây đảo và các nỗ lực quân sự hoá Biển Đông của Trung Quốc. Ông nói sự thiếu tập trung của hai nước này thể hiện những nghi ngờ lớn hơn về chiến lược Châu Á của Hoa Kỳ.

Nhà bình luận Fareed Zakaria của Mỹ cũng nêu lên nghi ngờ này. Ông Zakaria trích dẫn phát biểu của chính khách lão thành Singapore Lý Quang Diệu nói rằng 'Hoa Kỳ sẽ tiếp tục là cường quốc số một thế giới trong thế kỷ 21, với điều kiện nước này là cường quốc đứng đầu vùng Thái Bình Dương'.

Theo VOA.

Nóng: Trung Quốc lại làm loạn ở Trường Sa

Đá Châu Viên thuộc quần đảo Trường Sa (Việt Nam) bị phía Trung Quốc chiếm đóng và xây dựng công trình trái phép. Ảnh chụp vệ tinh tháng 11/2014. (Nguồn: CSIS)
Đá Châu Viên thuộc quần đảo Trường Sa (Việt Nam) bị phía Trung Quốc chiếm đóng và xây dựng công trình trái phép. Ảnh chụp vệ tinh tháng 11/2014. (Nguồn: CSIS)
Tân Hoa xã ngày 9/10 đưa tin Bộ Giao thông Trung Quốc đã tổ chức trái phép lễ khánh thành xây dựng xong hai ngọn hải đăng Hoa Dương và Xích Qua trên Đá Châu Viên của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Hoạt động trên đánh dấu quá trình bắt đầu hoạt động trái phép của hai ngọn hải đăng này, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam của phía Trung Quốc.

Trước đó, ngày 26/5, Trung Quốc đã bất chấp luật pháp quốc tế, chủ quyền của Việt Nam khi ngang ngược động thổ xây dựng ngọn Hoa Dương hình trụ và ngọn Xích Qua hình nón trên Đá Châu Viên (quần đảo Trường Sa-Việt Nam), với cùng chiều cao 50 mét, kết cấu bêtông cốt thép và chu kỳ chớp 8 giây. Hai hải đăng này sử dụng Hệ thống nhận dạng tự động (AIS) và thiết bị liên lạc tần số rất cao VHF.

Mặc dù trong bản tin của mình, Tân Hoa Xã, hãng thông tấn quốc gia của Trung Quốc thừa nhận Biển Đông là tuyến đường thông tin liên lạc quan trọng đồng thời là hành lang trên biển trọng yếu kết nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, nhưng những hành động của nước này trên khu vực Biển Đông thực tế đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh, an toàn hàng hải và ổn định ở khu vực.

Việt Nam đã nhiều lần mạnh mẽ khẳng định có đầy đủ chứng cứ pháp lý và lịch sử chứng minh chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Phát biểu trong một cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao hồi cuối tháng Tám, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình đã tuyên bố: “Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền không tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi hoạt động của nước ngoài ở khu vực này mà không được sự đồng ý của Việt Nam đều là bất hợp pháp và vô giá trị."./.

Theo VietNamPlus.

Mỹ giúp bốn nước Asean tăng cường an ninh biển để kiềm chế Trung Quốc

Tàu sân bay USS Nimitz tuần tra Biển Đông

Hoa Kỳ hôm thứ Năm 8/10 công bố tăng gấp bốn lần viện trợ cho Việt Nam, Malaysia, Philippines, và Indonesia thúc đẩy năng lực hành pháp trên Biển Đông.

Tuy vậy, Hoa Kỳ nhấn mạnh rằng động thái này không liên quan đến tranh chấp hàng hải gay gắt trong khu vực với Bắc Kinh.

“Sáng kiến bao gồm hơn 100 triệu đôla viện trợ của Hoa Kỳ cho việc thực thi pháp luật hàng hải cho bốn quốc gia này", trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ William Brownfield cho biết trong một cuộc họp báo qua điện thoại từ Washington.

Đây là mức tăng lớn từ cam kết 25 triệu đôla ban đầu do Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry thông báo tháng 12/2013.

"Chúng tôi không quá ngù ngờ. Chúng tôi biết có những vấn đề khác trong khu vực, nhưng sự trợ giúp của chúng tôi hiện tập trung vào việc thực thi pháp luật hàng hải", ông nói thêm.

Việt Nam, Malaysia, Philippines và Trung Quốc cùng tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, được cho là giàu tài nguyên.

Trung Quốc tăng cường cơi nới một số đảo ở Trường Sa mà Việt Nam và một số nước khác cũng tuyên bố chủ quyền

'Minh bạch'

Căng thẳng đã bùng lên trong năm qua với bằng chứng cho thấy Bắc Kinh gây sức ép bằng cách bồi đắp đảo nhân tạo trên các rạn san hô đang tranh chấp và xây dựng những công trình quân sự.

"Sáng kiến này hoàn toàn minh bạch. Chúng tôi không làm gì khuất tất", ông Brownfield cho biết một tuần sau chuyến thăm Việt Nam, Indonesia và Philippines.

"Tôi biết rằng, theo logic thông thường, một quốc gia có năng lực thực thi pháp luật hàng hải tốt hơn sẽ có khả năng giải quyết những vấn đề khác nữa. Nhưng đó không phải là mục đích của sáng kiến này".

Trung Quốc khẳng định chủ quyền hầu hết Biển Đông, tuyến đường thủy quan trọng với thương mại toàn cầu, trong khi Việt Nam, Brunei, Malaysia, Philippines và Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền.

Hôm 9/10, Bắc Kinh nhanh chóng phản ứng về việc hải quân Hoa Kỳ có thể điều tàu chiến vào khu vực 12 hải lý quanh đảo nhân tạo của Trung Quốc.

Báo Financial Times hôm 8/10 dẫn lời quan chức Hoa Kỳ giấu tên nói chiếc tàu chiến đầu tiên có thể vào trong vùng 12 hải lý quanh đảo nhân tạo của Trung Quốc "khoảng hai tuần tới".
Nếu xảy ra, đây sẽ là lần đầu tiên kể từ 2012 hải quân Hoa Kỳ có hành động thách thức trực diện tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông thông qua hoạt động mà Lầu Năm Góc gọi là thực thi tự do hàng hải.

Theo BBC

Sẽ nã tên lửa vào tàu Mỹ nếu tuần tra 12 hải lý ở Trường Sa

Nguồn tin thân cận với giới quân sự Trung Quốc nói rằng, Lầu Bát Nhất đã có vài phương án "chi phí thấp, hiệu quả cao" cho một cuộc đối đầu như vậy.

Bà Hoa Xuân Oánh, ảnh: Kyodo News/SCMP.

South China Morning Post ngày 8/10 đưa tin, bình luận về thông tin hải quân Mỹ sẽ cho tàu tuần tra vùng biển quốc tế xung quanh đảo nhân tạo Trung Quốc bồi lấp bất hợp pháp ở Trường Sa trong phạm vi 12 hải lý, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh nói bà "hy vọng Hoa Kỳ khách quan và công bằng, có tính xây dựng ở Biển Đông"?!

Tờ Navy Times và Financial Times dẫn nguồn tin quân sự Mỹ cho biết, kế hoạch này đã được Nhà Trắng chính thức chấp nhận vì hoạt động bồi lấp, xây dựng, quân sự hóa đảo nhân tạo bất hợp pháp của Trung Quốc đã trở thành nguồn cơn căng thẳng, đặt ra mối đe dọa cho tự do và an ninh hàng không, hàng hải ở Biển Đông.

Quan chức Lầu Năm Góc giấu tên cho biết, kế hoạch này có thể sẽ được triển khai trong vòng 2 tuần tới. Thông tin này xuất hiện trong bối cảnh Indonesia đang cân nhắc dùng tàm ngầm, máy bay do thám để tăng cường giám sát Biển Đông, đối phó với sự hiện diện quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc.

Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ William Brownfield hôm qua cho biết, Hoa Kỳ đang giúp Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác cải thiện năng lực thực thi pháp luật trên biển. 

Nghê Lạc Hùng, một chuyên gia quân sự Trung Quốc nói với South China Morning Post, hải quân Trung Quốc sẽ cảnh báo bằng loa và sẽ không có va chạm nếu tàu quân sự nước ngoài "di chuyển trong giới hạn". Nhưng Trung Quốc đủ khả năng "trục xuất bất kỳ kẻ xâm nhập nào".

Lý Kiệt, một chuyên gia hải quân từ Bắc Kinh nói rằng, Trung Quốc sẽ phái tàu chiến ngăn chặn tàu Mỹ nếu đối phương bỏ qua những lời cảnh báo. Một nguồn tin thân cận với giới quân sự Trung Quốc nói rằng, Lầu Bát Nhất đã có vài phương án "chi phí thấp, hiệu quả cao" cho một cuộc đối đầu như vậy.

"Chúng ta có thể điều động xuất kích các chiến hạm để trục xuất tàu Mỹ, hoặc đơn giản là ra lệnh cho Binh chủng Pháo binh 2 (tên lửa chiến lược) để bắn từ một khoảng cách nhất định", Lý Kiệt đe dọa.

Theo Giáo dục.
Designed byTin không lề |