Tin không lề: Tranh chấp biển Đông

Trung Quốc sẽ làm gì ở Biển Đông?


Tác giả: Alexander L. Vuving | Biên dịch: Huệ Việt

Kể từ năm 2014, quần đảo Trường Sa đã trở thành một công trường xây dựng lớn độc nhất vô nhị. Hàng chục tàu của Trung Quốc đã làm việc suốt ngày đêm, cắt san hô và nạo vét cát đáy biển để biến những rạn đá chìm thành đảo nổi nhân tạo. Trong vòng chưa đầy một năm, Trung Quốc đã tạo ra hơn 10 km vuông đất mới trên bảy địa điểm khác nhau trên cả quần đảo mà tổng diện tích đất ban đầu chỉ có khoảng 4 km vuông. Bãi Chữ Thập, chìm ở thuỷ triều cao khi bị TQ chiếm đóng vào năm 1988, giờ đã là một hòn đảo rộng 2,74 km vuông đủ lớn để chứa một đường băng dài 3.100 mét và một bến cảng rộng 63 ha. Và mặc dù đảo nhân tạo ở Bãi Chữ Thập đã gấp gần 6 lần diện tích hòn đảo tự nhiên lớn nhất ở Trường Sa là đảo Ba Bình, nó vẫn nhỏ hơn hai hòn đảo nhân tạo khác. Vào tháng Sáu năm 2015, Trung Quốc đã tạo được 4 km vuông đất tại Xu bi và và 5,6 km vuông đất tại Vành Khăn, và những con số này vẫn đang tiếp tục tăng trưởng. [1]

Vậy kết cục của cuộc chơi xây dựng đảo này sẽ là gì? Vai trò của các hòn đảo nhân tạo này trong thời kỳ chiến tranh và ở phương diện luật biển rất đáng hoài nghi. Những hòn đảo này quá nhỏ và quá cô lập để có thể chống đỡ các cuộc tấn công lớn, chúng có thể dễ dàng trở thành gánh nặng trong thời gian chiến tranh. Chỉ là đảo nhân tạo, những thực thể địa lý này sẽ không thể được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Vậy tại sao Trung Quốc lại đầu tư những nguồn lực khổng lồ để tạo ra những hòn đảo này? Trung Quốc cần những đảo này làm gì?

Cách tiếp cận truyền thống tập trung vào ý nghĩa quân sự và pháp lý của những hoạt động này không phù hợp để trả lời những câu hỏi trên. Trung Quốc đang theo đuổi một chiến lược dựa trên những nguyên tắc rất khác với lối nghĩ thông thường. [2] Triết lý đằng sau chiến lược này có thể được tìm thấy trong “Binh pháp” của Tôn Tử. Ý tưởng then chốt là làm sao để không đánh mà vẫn thắng. Mục tiêu tổng thể là giành quyền kiểm soát Biển Đông, nhưng không phải thông qua các trận đánh lớn. Thay vào đó, Trung Quốc muốn đạt được mục tiêu của mình thông qua các hoạt động từng bước thay đổi thực địa, tạo dựng một sân chơi có lợi cho mình, làm thay đổi về mặt tâm lý những tính toán chiến lược của các quốc gia khác. Logic cơ bản của chiến lược này là khéo léo tác động lên các cấu hình chiến lược của khu vực để làm thay đổi thực tế theo xu hướng có lợi cho sự thống trị của Trung Quốc.

Có ba yếu tố bắt buộc cần có để theo đuổi chiến lược bành trướng lắt léo này, và sáu thập kỷ can dự vào Biển Đông của Bắc Kinh đã tuân theo những yếu tố này một cách chặt chẽ (Giả thuyết này đã được trình bày lần đầu tiên vào năm 2014 ngoái và đã dự đoán được một cách chính xác các chương trình xây dựng của Trung Quốc ở bãi Xubi và Vành Khăn) [3]

Yếu tố bắt buộc đầu tiên là tránh tối đa những trận đánh lớn; có thể tạo ra những đụng độ, nhưng chỉ là để khai thác một tình huống có lợi đang có sẵn. Yếu tố này đã từng là trụ cột trong kế hoạch Trung Quốc chiếm Hoàng Sa từ tay Nam Việt Nam vào năm 1974 và đụng độ với Việt Nam ở quần đảo Trường Sa vào năm 1988.

Yếu tố bắt buộc thứ nhì là kiểm soát các vị trí chiến lược trong khu vực: nếu những vị trí này còn chưa có ai chiếm hữu, chúng cần phải được chiếm một cách âm thầm lén lút nếu có thể, và bằng một cuộc xung đột có giới hạn, nếu cần thiết. Có thể dễ thấy yếu tố này nhất khi Trung Quốc chiếm 7 thực thể ở Trường Sa, và bãi cạn Scarborough vào năm 2012.

Yếu tố bắt buộc thứ ba là phát triển những vị trí này thành các trạm kiểm soát mạnh, các trung tâm hậu cần vững chắc và các căn cứ triển khai sức mạnh quân sự một cách hiệu quả. Đây chính xác là những gì Trung Quốc hiện đang tiến hành ở Biển Đông.

Những hoạt động này nhằm phục vụ mục tiêu kép là thiết lập uy thế và chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhờ ở những vị trí chiến lược và có tác dụng hỗ trợ hậu cần, các đảo trong tay Trung Quốc sẽ là những căn cứ vững chắc để từ đó vô số các tàu thuyền đánh cá, tàu thực thi pháp luật, tàu chiến và máy bay có người lái hoặc không người lái, toả ra thống trị bầu trời và vùng biển của Biển Đông.

Các vị trí kiểm soát then chốt bao gồm đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, Bãi Chữ Thập, Xu Bi và Vành Khăn ở quần đảo Trường Sa và bãi cạn Scarborough ở phía đông bắc của Biển Đông. Đảo Phú Lâm, Bãi Chữ Thập, Vành Khăn và bãi cạn Scarborough sẽ tạo thành một cụm bốn điểm mà từ đó, với bán kính 250 hải lý, có thể theo dõi chặt chẽ toàn bộ khu vực chính của Biển Đông. Tại quần đảo Trường Sa, các đá Xu bi, Vành Khăn và Chữ Thập tạo ra một tam giác hoàn hảo để bao phủ toàn bộ quần đảo (Xem bản đồ).
Trên đảo Phú Lâm, Trung Quốc gần đây đã nâng cấp một đường băng dài 3.000 mét và một cảng nước sâu dài 1.000 mét. Đường băng này có khả năng đón nhận ít nhất tám máy bay thế hệ thứ tư như máy bay chiến đấu SU-30MKK và máy bay ném bom JH-7, trong khi các bến cảng có thể tiếp nhận những tàu có trọng tải từ 5.000 tấn trở lên. Một đường băng và một cảng có kích cỡ tương tự đã được xây dựng tại Bãi Chữ Thập. Hình dạng các đảo nhân tạo đang được hình thành ở Xu Bi và Vành Khăn gợi ý rằng ở đây rồi cũng sẽ có những đường băng và một hải cảng với kích thước tương tự. Mặc dù Bắc Kinh hiện chưa tiến hành xây dựng quy mô lớn ở bãi cạn Scarborough, sẽ không ngạc nhiên nếu như trong tương lai cũng sẽ có một đường băng và một cảng nước sâu tại đây.

Các khu vực đã được mở rộng thông qua lấn biển sẽ cho phép Trung Quốc thiết lập tại các tiền đồn các trang thiết bị quan trọng của quân đội cũng như các thiết bị lưỡng dụng cho cả quân sự và dân sự. Bốn tiền đồn nhỏ hơn của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa hiện giờ đã ít nhiều có kích thước tương tự với tiền đồn lớn nhất của Việt Nam ở đây. Đảo Trường Sa, hòn đảo lớn nhất mà Việt Nam đóng quânrong quần đảo, rộng 15 ha. Bốn tiền đồn Trung Quốc, Châu Viên, Gạc Ma, Gaven, và Tư Nghĩa giờ đã có kích thước lần lượt là 23,1 ha, 10,9 ha, 13,6 ha và 7,6 ha.

Trung Quốc sẽ đặt các trạm radar, các trạm phát điện và nước, cũng như các kho tàng, bến bãi và những cơ sở hạ tầng dịch vụ trên những đảo họ đang chiếm. Các trang thiết bị ở Hoàng Sa và Trường Sa sẽ có đủ năng lực để hỗ trợ hàng ngàn tàu cá và hàng trăm tàu tuần tra, tàu chiến và máy bay hoạt động ở những vùng biển và vùng trời cách xa bờ biển Trung Quốc hàng trăm dặm. Trung Quốc cũng sẽ đưa hàng ngàn dân, nhân viên quân sự và dân sự tới cư ngụ ở đây. Cùng với vài hòn đảo đã được mở rộng ở Hoàng Sa và bảy đảo nhân tạo ở Trường Sa đóng vai trò như là những điểm dừng chân và tiếp tế nhiên liệu, Trung Quốc có thể triển khai hang ngàn tàu cá và tàu thực thi pháp luật để đẩy người Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Indonesia ra khỏi vùng biển mà Bắc Kinh coi là của riêng mình.

Trung Quốc có thể không tấn công những thực thể địa lý mà các quốc gia khác đang chiếm đóng nhưng họ sẽ tăng cường nỗ lực bí mật kiểm soát những thực thể địa lý chưa có người mà ở những vị trí chiến lược. Bãi Én Đất và Đá Ba Đầu ở các cụm đảo trung tâm cũng như một vài thực thể địa lý ở phần phía đông quần đảo Trường Sa gần Philippines sẽ tiếp tục là mục tiêu của những nỗ lực này.

Trung Quốc có thể sẽ không chính thức tuyên bố một khu vực nhận dạng phòng không ở Biển Đông vì một hành động như vậy có thể sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng lớn và khiến nhiều quốc gia Đông Nam Á chống lại Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh sẽ áp đặt một số khu vực phòng không nhỏ ở những vùng trời xung quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc cũng sẽ khẳng định một cách âm thầm rằng vùng trời bên trong đường lưỡi bò là thuộc về họ.

Với cơ sở vật chất đáng kể hơn trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc sẽ thỉnh thoảng tuyên bố một số vùng an ninh, vùng đánh cá và vùng bảo vệ môi trường ở Biển Đông. Mặc dù những vùng này có thể không phù hợp với luật pháp quốc tế, Trung Quốc sẽ không chịu đưa tranh cãi ra toà, và vì là quốc gia mạnh nhất trong khu vực, Bắc Kinh có thể thi hành bất cứ điều gì mà họ tự cho là hợp pháp.

Liệu Trung Quốc có thể đạt được ưu thế không quân và hải quân ở Biển Đông không? Như đã đề cập ở trên, các sân bay và bến cảng ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là quá cách biệt và lộ liễu để có thể chống đỡ những cuộc tấn công lớn trong thời chiến. Tàu Liêu Ninh, chiếc tàu sân bay duy nhất hiện nay của Trung Quốc, không phải là đối thủ của bất kỳ tàu sân bay nào trong Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ. Mặc dù tàu Liêu Ninh sẽ được trang bị 30 máy bay chiến đấu đa chức năng SU-33 và nhiều máy bay trực thăng tác chiến chống tàu ngầm, một chiếc tàu sân bay lớp Nimitz của Mỹ thôi cũng đã có năng lực gấp hai lần.

Nhưng mục tiêu của Bắc Kinh dường như là muốn chiếm ưu thế trên không và trên biển vào những lúc mà không có sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ. Khả năng Việt Nam tấn công vào các tiền đồn của Trung Quốc ở Biển Đông bị hạn chế rất lớn bởi khả năng Trung Quốc trả đũa dọc theo 1,450 km đường biên giới trên bộ. Bốn sân bay ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ cho phép Trung Quốc tăng thêm 30-40 máy bay vào số máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư mà Trung Quốc có thể triển khai cùng lúc ở Biển Đông. Điều này sẽ cho phép Trung Quốc qua mặt Việt Nam và Malaysia, những lực lượng không quân lớn nhất trong số các đối thủ Đông Nam Á. Tuy Việt Nam được hưởng một bờ biển dài dọc theo Biển Đông nhưng hiện nay cả nước chỉ có khoảng 36 (cuối năm nay có thể có 48) máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư. Malaysia nằm xa về phía nam và hiện giờ có không nhiều hơn 50 máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư trên toàn bộ lãnh thổ.

Ngoài máy bay và tàu chiến, Trung Quốc cũng có thể triển khai tên lửa tới Hoàng Sa và Trường Sa. Việc triển khai tên lửa có thể sẽ kích hoạt những phản đối kịch liệt từ Việt Nam, Philippines, Hoa Kỳ và một số chính phủ khác, nhưng Trung Quốc sẽ tìm một thời điểm thuận tiện để biện minh cho việc triển khai đó như là một hành động tự vệ. Những trang thiết bị quân sự của Trung Quốc tại đó sẽ rất dễ bị tổn thương trong thời chiến, nhưng chức năng chính của chúng dường như là để dành cho những cuộc tuần tra thời bình và có tính đe doạ tâm lý.

Cách tiếp cận của Trung Quốc pha trộn các yếu tố cưỡng chế với các yếu tố hợp tác, sử dụng sự hợp tác để thu hút và bẫy đối phương vào sự cưỡng chế. Trung Quốc có thể cung cấp các cơ sở của mình trên đảo nhân tạo cho các lợi ích chung trong khu vực. Tháng 5 năm 2015, Đô đốc Ngô Thắng Lợi, Tư lệnh Hải quân Trung Quốc, nói với Đô đốc Jonathan Greenert, Tư lệnh Hải quân của Mỹ là các cơ sở trên đảo nhân tạo của Trung Quốc có thể được sử dụng cho những hoạt động cứu nạn và cứu trợ thiên tai. Mặc dù Hoa Kỳ đã từ chối lời rao này của Trung Quốc, Trung Quốc chắc chắn sẽ sử dụng những thực thể địa lý còn đang trong tranh chấp này như bàn đạp cho các hoạt động nhân đạo hay hợp tác nhằm gây sự chú ý cao và lôi kéo các quốc gia khác trong khu vực. Đối với những quốc gia không có tranh chấp đảo hay biển với Bắc Kinh ở Biển Đông, điều này sẽ tạo thêm một động lực để ngầm chấp nhận sự thống trị của Trung Quốc.

Trung Quốc có thể sẽ không cản trở các tuyến thương mại trên không và trên biển ở Biển Đông, nhưng sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu như Trung Quốc sẽ thỉnh thoảng chặn một số tàu thuyền và máy bay, cả dân sự lẫn quân sự, của những quốc gia phản đối những nỗ lực bá quyền khu vực của họ. Những hành vi đó được thiết kế để tạo ra những hiệu ứng về tâm lý hơn là hiệu ứng vật lý.

Các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông phù hợp với một chiến lược lớn hơn và lâu dài mà nguyên lý trung tâm là giành quyền kiểm soát khu vực có vị trí chiến lược then chốt này theo những cách mà có thể ngăn chặn các nước khác đáp trả tương tự. Chiến lược này lại là một phần của một nỗ lực lớn hơn để đạt được Giấc mơ Trung Quốc, để khôi phục lại vị trí mà Trung Quốc tự cho là chỗ đứng xứng đáng của nó, đó là ở trên đầu các quốc gia khác. Số phận của những quốc gia trỗi dậy hiếu chiến trong quá khứ và sự dễ bị tổn thương của các tuyến đường thương mại của Trung Quốc cho thấy rằng chiến tranh không phải là cách để Trung Quốc đạt được tham vọng này. Được trang bị với một truyền thống chiến lược ưa chuộng cách tiếp cận gián tiếp, Trung Quốc đã lựa chọn một chiến lược bành trướng lắt léo để tìm cách định hình sân chơi hơn là trực tiếp tấn công đối thủ. Đe dọa là một yếu tố chính của chiến lược này nhưng nó là kết quả của sự áp đảo hoặc trừng phạt nặng có chọn lọc chứ không phải là tấn công bừa bãi.

Nếu các đối thủ của Trung Quốc không có đối sách bẻ gãy chiến lược này, Trung Quốc sẽ nổi lên như là chúa tể của Biển Đông, ít nhất là trong nhận thức của hầu hết các nước trong khu vực. Từ đây, sẽ chỉ còn vài bước để vươn tới vị trí bá quyền khu vực và toàn cầu. Với thực tế là huyết mạch của nền kinh tế châu Á chạy qua Biển Đông, và châu Á đã trở thành chấn tâm kinh tế thế giới, ai kiểm soát Biển Đông sẽ thống trị châu Á, và bất cứ ai thống trị châu Á sẽ thống trị thế giới.

Alexander L. Vuving là giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương, Honolulu, Mỹ và là một chuyên gia trong lãnh vực An ninh châu Á, Biển Đông, Việt Nam và Trung Quốc. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết phân tích các vấn đề chính sách, chiến lược Biển Đông và quan hệ quốc tế trên các chuyên san như Asian Survey, The Diplomat, The National Interest và website của nhiều trường Đại học, cơ sở nghiên cứu lớn trên thế giới, cũng như là đồng tác giả của nhiều cuốn sách trong cùng lãnh vực. Ông đồng thời là thành viên ban biên tập tờ Chính sách và chính trị châu Á (Asian Politics and Policy) của Tổ chức Nghiên cứu Chính sách. Thông tin thêm về ông: http://apcss.org/college/faculty/vuving/

Theo Nghiên cứu quốc tế.

Trung Quốc tiếp tục đặt radar trái phép ở quần đảo Trường Sa?

Theo Kyodo News, Trung Quốc có thể đã xây dựng trái phép hệ thống radar mới trên đá Châu Viên, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Thông tin trên được Trung tâm Nghiên cứu chiến lược quốc tế (CSIS) của Mỹ tiết lộ hôm 22/2, căn cứ vào phân tích các ảnh chụp vệ tinh.

Các hình ảnh do DigitalGlobe cung cấp cho thấy một cột lớn cao khoảng 20 m xuất hiện trên đá Châu Viên.

Greg Poling, người đứng đầu Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á thuộc CSIS nói với trang USNI News (Mỹ), rằng thiết bị này rất có khả năng là một radar hàng hải tần số cao.

Ông Poling viết trong email gửi tờ Washington Post: "Nếu đây là một radar tần số cao thì nó sẽ làm tăng khả năng kiểm soát tàu bè và máy bay ở biển Đông.

Đá Châu Viên là địa điểm phù hợp nhất để đặt thiết bị như vậy do nằm ở vị trí cực nam trong số các đảo, đá mà Bắc Kinh cải tạo (phi pháp-PV) thuộc quần đảo Trường Sa..."

"[Radar] đóng vai trò rất quan trọng trong chiến lược chống tiếp cận mà Trung Quốc theo đuổi, nhằm làm giảm khả năng hoạt động tự do của Mỹ trên biển Đông, bao gồm việc điều động lực lượng từ biển Đông nếu xảy ra khủng hoảng trong tương lai ở Đông Bắc Á."
Ảnh vệ tinh chụp đá Châu Viên mới đây do CSIS đăng tải
Bryan Clark, chuyên gia phân tích của Trung tâm đánh giá ngân sách và chiến lược (CSBA), Mỹ, cho biết hệ thống radar trên có thể bị Trung Quốc sử dụng vào mục đích truy tìm các máy bay tàng hình ở biển Đông.

Theo ông Clark, radar tần số cao đời mới của Trung Quốc có thể xác định các máy bay mà những hệ thống đời cũ hơn không làm được.

Đá Châu Viên nằm trong cụm Trường Sa của quần đảo Trường Sa, thuộc chủ quyền của Việt Nam và bị Trung Quốc chiếm đóng, đưa quân đội lên đồn trú trái phép.

Theo báo chí Trung Quốc, đá Châu Viên có tác dụng như một "bốt tiền tiêu" bảo vệ đá Chữ Thập, cũng thuộc chủ quyền của Việt Nam bị nước này chiếm phi pháp.

Hoạt động hút cát, bồi lấp đảo nhân tạo mà Trung Quốc tiến hành trái phép ở đá Châu Viên bắt đầu vào khoảng tháng 1/2014 và hoàn thành nhanh chóng vào mùa thu cùng năm.

Hồi tuần trước, Trung Quốc cũng bị truyền thông Mỹ phát hiện bố trí trái phép các hệ thống tên lửa đất đối không HQ-9 và radar trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để phản đối việc Bắc Kinh vi phạm chủ quyền ở Hoàng Sa, đồng thời gửi lên Liên Hợp Quốc.

Theo Thế giới trẻ.

Căng thẳng gia tăng tại Biển Đông, Việt Nam phô trương sức mạnh quân sự

Hải quân Việt Nam canh gác tại đảo Thuyền Chài, quần đảo Trường Sa, Biển Đông (ảnh chụp ngày 17/01/2013). REUTERS
Đang từ hạng 43, Việt Nam nhảy vọt lên hạng 8 trong bảng xếp hạng của Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Stockholm-SIPRI về các nước nhập khẩu vũ khí trên toàn cầu. Trong giai đoạn từ 2011 đến 2015, Việt Nam mua vào gần 3 % vũ khí của thế giới, đứng trước cả Hàn Quốc hay Singapore. Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông là động cơ thúc đẩy Hà Nội tăng chi phí quân sự.

Việt Nam bất ngờ trở thành một trong 10 nước mua vũ khí nhiều nhất trên thế giới trong giai đoạn 5 năm vừa qua. Theo các số liệu của viện SIPRI vừa được công bố ngày 22/02/2016, trong thời gian từ 2011 đến 2015, một nước nhỏ như Việt Nam đã mua vào 2,9 % vũ khí của thế giới. Đây là một tỷ lệ tương đương với Hoa Kỳ. Để so sánh, cũng trong giai đoạn vừa qua, một quốc gia như Hàn Quốc chỉ chiếm 2,6 % thị trường nhập khẩu vũ khí của toàn cầu, cho dù Seoul đang phải đối mặt với thách thức về an ninh, đặc biệt là trước những hành vi khiêu khích từ phía Bắc Triều Tiên.

Một điểm đáng lưu ý khác được báo cáo vừa được công bố sáng nay của Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Stockholm nêu bật, đó là bước nhảy vọt rất dài của Việt Nam trên thị trường nhập khẩu vũ khí của toàn cầu. So với giai đoạn 2006-2010 chi phí quân sự của Việt Nam chỉ đứng hạng thứ 43 trên thế giới, tương đương 0,4 % thị phần quốc tế. Nhưng chỉ 5 năm sau, các khoản chi tiêu quân sự của Việt Nam đã được nhân lên gấp 7 lần.

Yếu tố Biển Đông

Vài giờ trước khi SIPRI công bố báo cáo về các hoạt động mua bán vũ khí trên thế giới trong giai đoạn 5 năm từ 2011 đến 2015, tờ báo tài chính Mỹ, The Wall Street Journal, ấn bản trên mạng trích lời ông Trần Công Trục, nguyên trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam cho rằng : đầu tư vào các trang thiết bị quân sự của Việt Nam tăng mạnh là “ điều hiển nhiên và cần thiết đặc biệt kể từ khi Biển Đông đang trở thành một điểm nóng ”. Tuy nhiên quan chức này cũng nhấn mạnh rằng việc Việt Nam hiện đại hóa các trang thiết bị quân sự nói trên không đặc biệt nhắm vào Trung Quốc.

Theo các số liệu chính thức, năm 2014 ngân sách quốc phòng của Việt Nam đạt 4,3 tỷ đô la, một giọt nước so với khoản tiền 132 tỷ của bộ Quốc Phòng Trung Quốc. Tuy nhiên theo giới phân tích, trên thực tế, các khoản chi phí quân sự của cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều cao hơn nhiều so với các con số vừa nêu.

Nhật báo tài chính Mỹ, The Wall Street Journal nhìn nhận quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh đã xấu hẳn đi sau vụ Trung Quốc đưa dàn khoan HD981 vào vùng biển của Việt Nam hồi tháng 5/2014 và gần đây nhất là sự kiện ảnh vệ tinh tiết lộ Bắc Kinh triển khai tên lửa trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa, nơi có tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc và cả Đài Loan. Việt Nam cũng không ngừng chỉ trích Trung Quốc bồi đắp các đảo nhân tạo ở Trường Sa, một điểm nóng khác trong quan hệ song phương.

Theo giới phân tích chiến lược bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông không là động cơ duy nhất thôi thúc Việt Nam tăng chi phí quân sự. Chính sách hiện đại hóa quân đội của Việt Nam còn theo đuổi một tham vọng lớn lao hơn.

Trong thời gian gần đây, Việt Nam đã đặt mua 6 chiếc tàu ngầm hạng Kilo của Nga có trang bị tên lửa dẫn đường ; trang bị máy bay tiêm kích Sukhoi Su30MK2, 6 tàu tuần duyên và hệ thống phòng không hiện đại do Israel chế tạo ...

Theo nhận định của chuyên gia Siemon Wezeman, Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Stockholm SIPRI, đành rằng, đây chưa phải là những loại vũ khí tối tân nhất nhưng trong bối cảnh căng thẳng tại Biển Đông hiện nay, việc hiện đại hóa các trang thiết bị quân sự như vậy cũng là một tín hiệu Hà Nội gửi tới Bắc Kinh. Đó là trong trường hợp xảy ra xung đột, Việt Nam cũng có khả năng kháng cự.

Còn theo quan điểm của chuyên gia Carlyle Thayer, Học việc Quốc phòng Úc, có nhiều khả năng Việt Nam sẽ tiếp tục là nước nhập khẩu vũ khí quan trọng của thế giới trong những năm sắp tới, đồng thời Việt Nam cũng đang hướng tới việc mở rộng công nghệ lắp ráp. Đương nhiên Hà Nội rất quan ngại trước những hành động bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông và do vậy, theo giáo sư Thayer, không có lý do gì để Việt Nam ngưng hiện đại hóa bộ máy quân sự.

Trong tương lai, Việt Nam sẽ còn nhập khẩu thêm tàu tuần tra, máy bay không người lái và những trang thiết bị phòng không hiện đại khác. Chuyên gia Carlyle Thayer nhắc lại, kể từ khi xóa bỏ cấm vận vũ khí sát thương trên biển với Việt Nam, Hoa Kỳ đang nóng lòng để trở thành một nhà cung cấp trang thiết bị quân sự cho Việt Nam, thu hẹp ảnh hưởng của Nga với quốc gia Đông Nam Á này.

Theo RFI.

Báo đảng Trung Quốc đòi "dạy Mỹ một bài học" ở Hoàng Sa

Có thể bao gồm điều động tàu khu trục ra ngăn cản, thậm chí đâm thẳng vào tàu Mỹ trong trường hợp xấu nhất, để dạy cho Mỹ một bài học.

South China Morning Post ngày 19/12 đưa tin, phiên bản điện tử quốc tế của tờ Nhân Dân nhật báo - cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc vừa có bài xã luận dọa bắn cảnh cáo, thậm chí húc thẳng vào tàu chiến Hoa Kỳ nếu tiếp tục tuần tra bên trong 12 hải lý các thực thể ở Hoàng Sa (Đà Nẵng, Việt Nam) mà Trung Quốc đang chiếm đóng (bất hợp pháp).
HQ-9, loại tên lửa được cho là Trung Quốc đã kéo ra cài đặt bất hợp pháp ở Phú Lâm, Hoàng Sa, Khánh Hòa, Việt Nam. Ảnh: Đa Chiều.
Một bài xã luận trên Nhân Dân nhật báo ngày hôm nay nói rằng, hành động cứng rắn của quân đội Trung Quốc sẽ "dạy cho Mỹ một bài học".

Cuối tháng trước, tàu khu trục Hoa Kỳ đã tiến hành tuần tra tự do hàng hải bên trong 12 hải lý đảo Tri Tôn, Hoàng Sa. Đây là một hoạt động bình thường được Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 cho phép, trong đó Trung Quốc là một thành viên phê chuẩn Công ước.

Bài báo này tuyên truyền rằng, quần đảo Hoàng Sa đã nằm dưới sự kiểm soát (phi pháp thông qua vũ lực, xâm lược) trong suốt hơn 40 năm qua, đây là điểm mấu chốt để Trung Quốc bảo vệ (yêu sách bành trướng trên) Biển Đông.

"Trung Quốc phải làm rõ lập trường của mình trong khu vực bằng cách hành động cứng rắn chống lại bất kỳ cuộc xâm nhập nào. Hành động này có thể bao gồm điều động tàu khu trục ra ngăn cản, thậm chí đâm thẳng vào tàu Mỹ trong trường hợp xấu nhất, để dạy cho Mỹ một bài học", bài xã luận sặc mùi hiếu chiến viết.

South China Morning Post nhận xét, căng thẳng gia tăng nhanh chóng trên Biển Đông sau khi Bắc Kinh bồi đắp, xây dựng và quân sự hóa đảo nhân tạo (bất hợp pháp) trên một số thực thể Trung Quốc đang chiếm đóng (phi pháp) ở Trường Sa, Hoàng Sa.

Sức ép chống bành trướng tăng vọt

Trong một động thái có liên quan, The Guardian ngày 19/2 đưa tin, Chính phủ Thủ tướng Úc Turnbull đang phải đối mặt với áp lực ngày càng tăng từ phe đối lập, buộc nước này điều động tàu chiến, máy bay đến Biển Đông, bảo vệ tự do hàng không hàng hải và luật pháp quốc tế trong lúc căng thẳng tăng cao.

Stephen Conroy, người phát ngôn của phe đối lập Úc về quốc phòng, an ninh cho biết, các nước như Úc nên chứng minh rằng, họ không thể để Trung Quốc bắt nạt thông qua các hoạt động bảo vệ tự do hàng hải, hang không bên trong 12 hải lý các thực thể Trung Quốc đang chiếm đóng (trái phép) ở Biển Đông.

Kêu gọi được đưa ra sau khi Thủ tướng Úc Malcolm Turbull và người đồng cấp New Zealand, John Key đã gặp nhau tại Sydney hôm nay để thảo luận các vấn đề về an ninh khu vực. Căng thẳng tăng vọt trên Biển Đông sau khi Trung Quốc kéo giàn tên lửa HQ-9 ra cài đặt bất hợp pháp ở đảo Phú Lâm, Hoàng Sa.

Các lực lượng quốc phòng Úc đã tiến hành thường xuyên các hoạt động tuần tra ở Biển Đông, nhưng chưa khi nào tiến lại gần (bên trong 12 hải lý) các thực thể tranh chấp.

Conroy nói với hãng tin ABC: "Trật tự quốc tế dựa trên luật pháp cần những nước đang hưởng lợi từ nó phải đứng lên, phải chứng minh rằng mình không thể để Trung Quốc bắt nạt như vậy.

Các điều ước quốc tế, luật pháp quốc tế về biển cho phép chúng tôi đi qua vô hại bên trong 12 hải lý lãnh hải của tất cả các vùng lãnh thổ tranh chấp
", Conroy nói. Chính phủ Úc cần chuẩn bị các phương án để bảo vệ trật tự quốc tế.

Trước tình hình căng thẳng leo thang, theo Nikkei Asian Review ngày 19/2, Nhật Bản cũng đang kêu gọi Mỹ đẩy mạnh các hoạt động tuần tra ở BIển Đông sau khi Trung Quốc kéo tên lửa ra Hoàng Sa.Trong khi đó từ Thứ Ba đến Thứ Năm tuần này, hải quân Nhật Bản lần đầu tiên có cuộc tập trận chung với hải quân Việt Nam ở Biển Đông.

Hai máy bay tuần tra P-3C của Nhật Bản cũng đã hạ cánh xuống Đà Nẵng trên đường trở về từ Somalia. Khoảng 80% lượng dầu nhập khẩu của Nhật Bản phải đi qua Biển Đông, vùng biển này có vai trò chiến lược quan trọng với kinh tế Nhật Bản.

Theo Giáo dục.

Trung Quốc nói Mỹ 'quân sự hóa Biển Đông'

Sinh viên Philippines phản đối Trung Quốc ở Manila hôm 19/2
Bộ Ngoại giao Trung Quốc cáo buộc Mỹ quân sự hóa Biển Đông, và khẳng định đảo Phú Lâm, Hoàng Sa là lãnh thổ Trung Quốc.

Việt Nam trước đó cho biết đã gửi công hàm đến Đại sứ quán Trung Quốc và Liên Hiệp Quốc phản đối Trung Quốc đưa tên lửa ra quần đảo Hoàng Sa.

Tin tức mới đây nói Trung Quốc xây dựng căn cứ trực thăng quân sự trên đảo Quang Hòa và bố trí tên lửa đất đối không HQ-9 trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Tại cuộc họp báo thứ Sáu, người phát ngôn Trung Quốc Hồng Lỗi nói đảo Phú Lâm, mà Trung Quốc gọi là Vĩnh Hưng, là lãnh thổ Trung Quốc.

“Từ 1959, chính phủ Trung Quốc đã thiết lập văn phòng hành chính và cơ sở liên quan của chính quyền trên đảo Vĩnh Hưng.”

“Từ nhiều năm Trung Quốc đã xây dựng và điều chuyển các thiết bị quốc phòng cần thiết.”

“Một số nước liên quan cần hiểu rõ lịch sử và dữ kiện căn bản về Nam Hải trước khi bình phẩm,” theo ông Hồng Lỗi.

Ông Hồng đáp trả bình luận của người phát ngôn ngoại giao Mỹ John Kirby, nói rằng tên lửa trên đảo Phú Lâm mới được lắp đặt và không có dấu hiệu Trung Quốc ngừng quân sự hóa trên đảo này.

Phú Lâm là đảo lớn nhất trong quần đảo Hoàng Sa.

Ông Hồng Lỗi cáo buộc Mỹ quân sự hóa Biển Đông.

“Mỹ liên tục gia tăng lực lượng quân đội trên Nam Hải, thường xuyên gửi tàu chiến, máy bay ra Nam Hải để do thám quân sự và gửi tàu khu trục có tên lửa và máy bay đánh bom ra Nam Sa và vùng biển xung quanh.”

“Mỹ cũng thu hút và thúc ép các đồng minh, đối tác tiến hành các chuyến đi và tập trận trên Nam Hải,” ông Hồng nói.

Cũng ngày 19/2, người phát ngôn ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình nói: “Đây là những hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.”

Ông Bình nói Trung Quốc “đe dọa hòa bình và ổn định trong khu vực cũng như an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông.”

Theo BBC.
Designed byTin không lề |