Tin không lề: Kinh tế

Xin vay thêm nước ngoài vì nhu cầu vốn vượt trần 59 ngàn tỷ đồng


Dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông ở Hà Nội, ảnh chụp hôm 20/9/2018. (Ảnh minh họa)

Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa yêu cầu vay nợ nước ngoài thêm vì nhu cầu vốn đã “vượt trần” Quốc hội cho phép là hơn 59 nghìn tỷ đồng.

Theo báo Vietnamnet, Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa trình Chính phủ phương án điều chỉnh kế hoạch đầu tư trung hạn vốn nước ngoài từ ngân sách Trung ương giai đoạn 2016-2020.

Cụ thể, tổng nhu cầu vốn vay nước ngoài dự kiến hơn 359 ngàn tỷ đồng, trong khi Quốc hội chỉ giao hạn mức là 300 ngàn tỷ đồng.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư nêu rõ, trong số 59 ngàn tỷ đồng “vượt trần”, số vốn tăng thêm tại dự án đường sắt đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm 29 ngàn tỷ, dự án đường bộ cao tốc là hơn 13,1 ngàn tỷ đồng...

Theo giải thích của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, việc tăng vốn các dự án đường bộ cao tốc tới 13,1 ngàn tỷ đồng là do chuyển đổi cơ chế, từ vay lại, sang Nhà nước đầu tư trực tiếp đối với các dự án giao thông do Tổng công ty Đầu tư đường cao tốc (VEC) và Tổng công ty Phát triển hạ tầng và Đầu tư tài chính Việt Nam (Vidifi). Trong đó riêng dự án của VEC là 12,7 nghìn tỷ đồng.

Cũng theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng số vốn cần bổ sung không ảnh hưởng tới các chỉ tiêu an toàn nợ công đã được Quốc hội phê chuẩn, có thể đáp ứng bằng điều chuyển trong khuôn khổ 2 triệu tỷ đồng cho đầu tư phát triển đã được Quốc hội thông qua.

Theo báo cáo của Bộ tài chính, tính đến tháng 9 năm 2016 nợ công của Việt Nam đạt 61% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và con số này tăng lên gần 65% vào thời điểm 2017-2018. Tốc độ tăng nợ công của Việt Nam gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng của GDP. Năm 2017, vay đảo nợ lên đến 95 ngàn tỷ đồng. Cứ 3 tháng 1 lần, Việt Nam phải trả nợ công gồm cả gốc và lãi với số tiền khoảng 25 nghìn tỷ đồng, tương đương hơn 1 tỷ đô la Mỹ.

RFA.

Bán cảng Quy Nhơn với giá 'bèo'- Kỳ 3: Làm theo chỉ đạo?


Quá trình 'hô biến' cảng Quy Nhơn từ 100% vốn Nhà nước trở thành tài sản tư nhân được 'thông qua' với hàng chục văn bản từ cấp TƯ đến địa phương.

Bài liên quan: 



Cần cẩu tại cảng Quy Nhơn ẢNH: NGUYỄN DŨNG

Cảng Quy Nhơn trực thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines, thuộc Bộ GTVT) nhưng tại sao Chủ tịch UBND tỉnh, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định lại có văn bản xin chủ trương rồi lại hối thúc Bộ GTVT sớm triển khai quá trình cổ phần hóa để bán 25%, đến bán 51% rồi bán toàn bộ vốn nhà nước tại cảng này cho tư nhân?

Ông Tô Tử Thanh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, cho rằng quá trình cổ phần hóa cảng Quy Nhơn có sai phạm của nhiều cá nhân cần được làm sáng tỏ.

Ai muốn bán hết?


Theo tìm hiểu của Thanh Niên, ông Lê Hữu Lộc, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định từ năm 2011 - 2014, có ký 2 văn bản liên quan quá trình cổ phần hóa cảng Quy Nhơn.

Đó là các văn bản số 1115/UBND-KTN ngày 4.4.2013 gửi Bộ trưởng Bộ GTVT về việc xin chủ trương cổ phần hóa cảng Quy Nhơn theo hướng Nhà nước nắm giữ 49% vốn cổ phần doanh nghiệp; văn bản số 628/UBND-TH ngày 25.2.2014 gửi Bộ trưởng Bộ GTVT đề nghị bán hết phần vốn Nhà nước tại cảng Quy Nhơn.

Theo ông Lê Hữu Lộc, đầu tháng 4.2013, ông Nguyễn Văn Thiện (lúc này là Bí thư Tỉnh ủy Bình Định) đến gặp ông Lộc trao đổi rằng cảng Quy Nhơn rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Bình Định, nhưng lại đang quá tải, trong khi TƯ rất ít đầu tư vì ngân sách khó khăn. Vì vậy, cần cổ phần hóa để cảng Quy Nhơn có nhà đầu tư chiến lược đầu tư phát triển cảng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Cũng theo ông Lộc, ông Nguyễn Văn Thiện nói việc này đã thống nhất với Bộ GTVT. Vì vậy, ông Lộc ký văn bản số 1115 xin chủ trương cổ phần hóa cảng Quy Nhơn.

Ngày 27.5.2013, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh ký công văn số 747/TTg-ĐMDN về việc chấp thuận phương án cho phép Vinalines chỉ còn nắm giữ 49% vốn điều lệ tại cảng Quy Nhơn. Công văn này căn cứ trên đề nghị của Bộ GTVT (văn bản số 2900 ngày 4.4.2013) và ý kiến Bộ Tài chính (văn bản 4991 ngày 23.4.2013).

“Tại sao văn bản số 1115 tôi ký ngày 4.4.2013 lại trùng với ngày Bộ GTVT có văn bản số 2900? Theo tôi nghĩ, văn bản 1115 chưa đến thì Bộ GTVT đã có văn bản trước đề nghị Thủ tướng Chính phủ. Vì vậy, văn bản của tỉnh không thể tác động đến văn bản của Bộ GTVT”, ông Lộc giải thích.


Ông Lộc cũng cho rằng việc ký văn bản số 628 cũng là "thực hiện theo sự chỉ đạo của Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, Bộ trưởng Bộ GTVT…".

Ngày 1.1.2014, Bộ trưởng Bộ GTVT lúc này là ông Đinh La Thăng đã có buổi làm việc với lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Định. Sau đó, Bộ GTVT gửi thông báo số 06/TB-BGTVT ngày 6.1.2014 thông báo kết luận của Bộ trưởng Đinh La Thăng về buổi làm việc với tỉnh Bình Định.
Thông báo có nêu nội dung về việc cổ phần hóa cảng Quy Nhơn: “Giao Vinalines bán số cổ phần còn lại để đạt mức Nhà nước giữ 49% vốn điều lệ theo phương án CPH được duyệt trong quý 1/2014. Sau đó, giao Vụ Quản lý doanh nghiệp dự thảo văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép thí điểm bán toàn bộ số cổ phần còn lại cho các nhà đầu tư trong nước để tạo nguồn vốn đầu tư, nâng cấp, mở rộng cảng Quy Nhơn theo quy hoạch được phê duyệt”.

Làm hàng tại cảng Quy Nhơn ẢNH: HOÀNG TRỌNG

Ông Lê Hữu Lộc khẳng định ông Nguyễn Văn Thiện sau đó đã chỉ đạo ông Lộc có văn bản gửi Bộ GTVT đề nghị sớm thực hiện ý kiến kết luận của Bộ trưởng Bộ GTVT trong văn bản nói trên. Ông Lộc đã ký văn bản số 628/UBND-TH ngày 25.2.2014.

“Tại buổi làm việc với Bộ trưởng Bộ GTVT có đầy đủ Thường trực Tỉnh ủy Bình Định. Vì vậy, việc ký văn bản đề nghị Bộ GTVT sớm thực hiện kết luận của bộ trưởng không phải là ý kiến cá nhân của tôi. Tuy nhiên, cảng Quy Nhơn trực thuộc Vinalines, nhưng với tư cách là Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, tôi đã ký 2 văn bản đề nghị nêu trên là không đúng quy định”, ông Lộc thừa nhận.

Không thông qua Ban Thường vụ, hối thúc bán cảng


Tháng 6.2015, Vinalines tiếp tục bán 26,01% tỷ lệ sở hữu cảng Quy Nhơn cho Công ty Hợp Thành và chỉ còn nắm giữ 49% vốn điều lệ.

Ngày 30.7.2014, Bộ GTVT có công văn số 9210/BGTVT-QLDN đề nghị Thủ tướng Chính phủ về việc bán hết cổ phần vốn Nhà nước tại cảng Quy Nhơn.

Ngày 8.9.2014, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh ký văn bản 1652/TTg-ĐMDN đồng ý bán hết phần vốn của Vinalines tại cảng Quy Nhơn cho các nhà đầu tư trong nước

Ngày 13.7.2015, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định Nguyễn Văn Thiện ký văn bản số 1062-CV/TU gửi Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đề nghị chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa cảng Quy Nhơn, bán toàn bộ cổ phần của Nhà nước do Vinalines đang nắm giữ (49%) cho các nhà đầu tư chiến lược trong nước.

Đến tháng 9.2015, Vinalines bán toàn bộ phần vốn còn lại cho Công ty Hợp Thành.

Ông Nguyễn Văn Thiện thừa nhận việc ký văn bản số 1062-CV/TU mà không thông qua Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định là vì bản thân “nôn nóng” muốn cảng Quy Nhơn tìm được nhà đầu tư chiến lược để đầu tư, nâng cấp hạ tầng, mở rộng cảng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

Tuy nhiên, ông Thiện cho rằng cấp địa phương thì không có quyền bán cảng Quy Nhơn, thẩm quyền bán cho ai, như thế nào... thuộc về Bộ GTVT.

Trao đổi với PV Thanh Niên trong chiều 7.9, ông Nguyễn Văn Thiện cho rằng vấn đề chính là tỉnh Bình Định mong muốn Bộ GTVT, Cục Hàng hải sớm đầu tư, nâng cấp hạ tầng cảng Quy Nhơn. Vì vậy, lãnh đạo tỉnh Bình Định đã báo cáo với Bộ GTVT sớm có phương án đầu tư cảng Quy Nhơn.

“Lúc đó, Bộ GTVT cho chủ trương cổ phần hóa nên chúng tôi chấp nhận. Nghe lãnh đạo Bộ nói cổ phần hóa để có nhà đầu tư chiến lược đầu tư hệ thống hạ tầng cảng Quy Nhơn hiện đại, thì chúng tôi rất mừng, nên sẵn sàng ủng hộ, để Bộ cổ phần hóa cảng Quy Nhơn”, ông Thiện giải thích.


Ông Tô Tử Thanh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, cho rằng ai đúng, ai sai trong quá trình cổ phần hóa Cảng Quy Nhơn cần phải được làm rõ, trong đó có cả trách nhiệm của Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định trong giai đoạn này.

Tại sao ban đầu có văn bản quy định các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa như cảng Quy Nhơn thì Nhà nước nắm giữ 75% vốn điều lệ; nhưng sau đó lại có các văn bản đồng ý để Nhà nước nắm giữ còn 49% vốn điều lệ; sau đó lại tiếp tục đồng ý bán hết cổ phần của Nhà nước?

TNO.

Bán cảng Quy Nhơn với giá 'bèo' - Kỳ 2: Định giá ... 'đúng quy trình'


Ông Tô Tử Thanh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bình Định: 'Chỉ cần bán 2 cần cẩu và thương hiệu cảng Quy Nhơn thôi cũng đủ thu trên 400 tỉ rồi... Nếu thanh tra làm rõ vấn đề này sẽ lộ ra bao nhiêu điều bất thường'.


Toàn bộ khu vực Cảng Quy Nhơn nhìn từ trên cao ẢNH: NGUYỄN DŨNG

Đúng quy trình?


Ông Nguyễn Hữu Phúc, nguyên Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn, Tổ trưởng Tổ giúp việc Ban chỉ đạo cổ phần hóa cảng Quy Nhơn, cho rằng quá trình xác định giá trị doanh nghiệp, xây dựng phương án cổ phần hóa, tổ chức đấu giá công khai… đều được Tổ giúp việc Ban chỉ đạo cổ phần hóa cảng Quy Nhơn, Ban chỉ đạo cổ phần hóa cảng Quy Nhơn và đơn vị tư vấn là Công ty TNHH kiểm toán và tư vấn thuế (ATC) làm việc công khai, minh bạch, chặt chẽ, đúng quy trình.

Theo ông Phúc, ngày 22.3.2013, Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn đã phát hành thư mời tham gia dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp gửi đến một số tổ chức tư vấn định giá được phép cung cấp dịch vụ định giá xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa năm 2013 theo quyết định của Bộ Tài chính. Kết quả có 3 đơn vị nộp hồ sơ.

Sau đó, Ban chỉ đạo cổ phần hóa Cảng Quy Nhơn và Hội đồng thanh viên Vinalines quyết định chọn ATC tham gia xác định giá trị Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn.

Ngày 17.6.2013, sau 3 lần họp thẩm tra kết quả xác định giá trị doanh nghiệp với ATC, Ban chỉ đạo cổ phần hóa cảng Quy Nhơn có tờ trình về việc phê duyệt giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn đến thời điểm ngày 31.3.2013 là hơn 513,8 tỉ đồng, trong đó phần vốn nhà nước nắm giữ là 404 tỉ đồng.

Ngày 25.6.2013, Hội đồng thành viên Vinalines có quyết định phê duyệt giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa của Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn như tờ trình này.

Kết quả xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa và phương án cổ phần hóa Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn được đăng công khai trên web công ty và trên các phương tiện đại chúng.

Đến trước ngày tổ chức đấu giá lần đầu (ngày 12.9.2013), Tổ giúp việc Ban chỉ đạo cổ phần hóa Cảng Quy Nhơn không nhận bất cứ thông tin nào từ Vinalines và các cơ quan hữu quan khác cho rằng xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa cảng Quy Nhơn là không phù hợp.

Khâu định giá tài sản "có vấn đề"


Theo ông Tô Tử Thanh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, việc xác định giá trị tài sản tại Cảng Quy Nhơn rất có vấn đề.

“Chỉ cần bán 2 cần cẩu và thương hiệu cảng Quy Nhơn thôi cũng đủ thu trên 400 tỉ rồi, đó là chưa kể bao nhiêu tài sản khác nữa. Nếu thanh tra làm rõ vấn đề này sẽ lộ ra bao nhiêu điều bất thường”, ông Tô Tử Thanh nói.

Cần cẩu tại cầu Cảng Quy Nhơn ẢNH: NGUYỄN DŨNG

Theo thông tin bán đấu giá cổ phần cảng Quy Nhơn lần đầu do Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn đã công bố thì tài sản của đơn vị này gồm: hệ thống kho bãi có diện tích mặt bằng là 306.586 m2; 6 cầu tàu với tổng chiều dài 824 m, trong đó lớn nhất là cầu tàu số 6 có thể tiếp nhận tàu tải trọng 50.000 tấn giảm tải ra vào làm hàng, trụ sở làm việc 3 tầng; 165 thiết bị, phương tiện xếp dỡ đã được trang bị đủ khả năng xếp dỡ tất cả các loại hàng rời, hàng container, kể cả hàng siêu trường, siêu trọng và hơn 300.000 m2 đất các loại ngay trong nội thành Quy Nhơn dưới hình thức thuê đất 50 năm hoặc giao đất không thu tiền sử dụng đất…Trước khi cổ phần hóa, cảng Quy Nhơn nằm trong hệ thống cảng biển để thực hiện “Chiến lược biển Việt Nam” đến năm 2020 và tiếp theo. Đây là điểm tiếp nhận hàng hóa đầu mối của các tỉnh Nam Trung bộ, Tây nguyên đến các cửa khẩu của Việt Nam với Lào, Campuchia.

Tháng 9.2014, UBND tỉnh Bình Định phê duyệt kế hoạch phát triển cảng Quy Nhơn quy mô mở rộng lên gần 120 ha. Năm 2012, sản lượng hàng hóa thông qua Cảng Quy Nhơn đạt hơn 5,7 triệu tấn, vượt công suất thiết kế hơn 262%, tổng doanh thu đạt 418 tỉ đồng, lợi nhuận 20.6 tỉ đồng, nộp ngân sách 25 tỉ đồng.

Nhà nước nắm giữ phần vốn tại QNP là hết sức cần thiết


Ngày 14.5.2014, với tư cách là Tổng giám đốc Công ty CP Cảng Quy Nhơn (QNP), ông Nguyễn Hữu Phúc đã viết và ký văn bản đề nghị Vinalines giữ lại 49% vốn điều lệ tại QNP, không bán hết cho tư nhân.

Theo ông Phúc, tại Quyết định số 2190/QĐ-TTg ngày 24.12.2009 của Thủ tướng về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, cảng Quy Nhơn thuộc nhóm cảng biển Nam Trung Bộ được xác định là cảng tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực (loại 1).

Không chỉ vậy, cảng Quy Nhơn còn là cửa ngõ ra biển của tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây, thuộc tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, đáp ứng cho phát triển kinh tế trong khu vực Nam Trung Bộ - Tây Nguyên, là đầu mối giao thương cho khu vực Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và Thái Lan.

Vai trò, vị trí, tầm quan trọng của cảng Quy Nhơn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bình Định nói riêng và các tỉnh miền Trung - Tây nguyên nói chung là rất quan trọng nên việc nhà nước nắm giữ phần vốn tại QNP là hết sức cần thiết.

TNO.

Bán cảng Quy Nhơn với giá 'bèo' - Kỳ 1: Ai bán cảng?


Ai chủ trương cổ phần hóa để bán 100% cảng Quy Nhơn cho tư nhân? Ai xác định giá trị tài sản nhà nước nắm giữ tại cảng Quy Nhơn chỉ hơn 400 tỉ đồng?

Tàu vào làm hàng tại cảng Quy Nhơn ẢNH: NGUYỄN DŨNG

Từ năm 2013 - 2015, sau 3 lần bán đấu giá cổ phần, cảng Quy Nhơn từ một đơn vị do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ đã trở thành đơn vị do Công ty CP Đầu tư và Khoáng sản Hợp Thành (ở TP.Hà Nội) nắm giữ 86,23% vốn điều lệ.

Tổng vốn nhà nước thu hồi trong việc cổ phần hóa cảng Quy Nhơn chỉ 404 tỉ đồng, được cho là quá “bèo” so với giá trị thực tế của cảng này.

Ngoài ra, việc cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại cảng Quy Nhơn có thể trái với Đề án tái cơ cấu Vinalines giai đoạn 2012 - 2015 do Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh ký ban hành ngày 4.2.2013, có quy định doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa nắm giữ 75% vốn điều lệ.

Theo Quyết định số 37/2014/QĐ-TTg ngày 18.6.2014 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước, cảng Quy Nhơn nằm trong diện Nhà nước
 (Vinalines đại diện phần vốn) phải nắm giữ 75% vốn điều lệ.

Ai bán cảng cho tư nhân?


Cảng Quy Nhơn được hình thành năm 1976 do Cục Đường biển (thuộc Bộ GTVT) quản lý. Đến năm 1993, Bộ GTVT quyết định thành lập doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Cảng Quy Nhơn. Năm 2009, cảng này trực thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) và được đổi tên là Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn.

Ngày 4.4.2013, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định có văn bản đề nghị Thủ tướng, Bộ GTVT và Vinalines cho chủ trương cổ phần hóa cảng Quy Nhơn theo hướng giảm phần vốn nhà nước xuống còn 49% để huy động vốn đầu tư mở rộng cảng Quy Nhơn. Ngày 27.5.2013, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh tiếp tục ký văn bản chấp thuận phương án cho Vinalines chỉ còn nắm giữ 49% vốn điều lệ tại cảng Quy Nhơn.

Trên cơ sở các văn bản nói trên, ngày 22.7.2013, Vinalines có Quyết định số 336/QĐ-HHVN về việc phê duyệt phương án cổ phần hóa, chuyển Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn thành Công ty CP Cảng Quy Nhơn (QNP). Theo đó, quá trình cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn được chia làm 2 giai đoạn.

Giai đoạn 1 phát hành lần đầu 40.409.950 cổ phần (CP), trong đó nhà nước chiếm 75% vốn điều lệ, người lao động và tổ chức công đoàn 5%, nhà đầu tư chiến lược 10% và phát hành ra bên ngoài 10%.

Giai đoạn 2, nhà nước giảm tỉ lệ CP nắm giữ xuống còn 49%, thực hiện trong khoảng thời gian 2014 - 2015.

Tháng 8.2013, Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn đã công bố thông tin bán đấu giá cổ phần cảng Quy Nhơn lần đầu. Theo thông tin được công bố, Hội đồng thành viên Vinalines xác định giá trị thực tế của cảng Quy Nhơn đến ngày 31.3.2013 hơn 513,8 tỉ đồng, trong đó phần vốn nhà nước nắm giữ là 404 tỉ đồng.

Ban chỉ đạo cổ phần hóa gồm: ông Nguyễn Cảnh Việt, Tổng giám đốc Vinalines làm Trưởng ban chỉ đạo cổ phần hóa Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn và ông Nguyễn Hữu Phúc, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn.

Tháng 9.2013, Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn tổ chức bán đấu giá lần thứ nhất thành công, bán ra 10% vốn điều lệ cho cổ đông tự do (tương đương 4,04 triệu CP với mức giá bình quân 12.792 đồng/CP) và 10% vốn điều lệ cho nhà đầu tư chiến lược là Công ty CP Đầu tư và Khoáng sản Hợp Thành, 5% vốn điều lệ còn lại được bán cho người lao động và tổ chức công đoàn. Như vậy, đến thời điểm này, Nhà nước còn nắm giữ 75% vốn điều lệ tại cảng Quy Nhơn (tương đương 30.307.462 CP).

Tháng 6.2015, Vinalines tiếp tục chuyển nhượng đợt 2 với 10,5 triệu CP, tương đương 26,01% tỉ lệ sở hữu QNP cho Công ty CP Đầu tư khoáng sản Hợp Thành. Đến tháng 9.2015, Vinalines lại bán toàn bộ phần vốn còn lại trong QNP (19,8 triệu CP với tỉ lệ 49%) cho Công ty Hợp Thành (đợt 3). Như vậy, sau 3 đợt được Vinalines chuyển nhượng cổ phần, Công ty CP Đầu tư khoáng sản Hợp Thành nắm giữ 86,23% vốn điều lệ tại QNP (tổng trị giá 440 tỉ đồng).

Có lợi ích nhóm trong việc cổ phần hóa cảng Quy Nhơn với giá "bèo"?


Theo ông Nguyễn Hữu Phúc, nguyên Tổng giám đốc QNP, trước khi tiến hành bán toàn bộ vốn nhà nước tại QNP cho Công ty Hợp Thành, Vinalines có yêu cầu lấy ý kiến Ban Thường vụ Đảng ủy, người đại diện phần vốn Nhà nước, ban tổng giám đốc và đại diện công đoàn QNP. Trong cuộc họp ngày 13.5.2014 gồm các thành phần nói trên, 100% đại biểu biểu quyết đề nghị nhà nước tiếp tục duy trì tỉ lệ sở hữu 49% vốn điều lệ tại QNP.

Xếp dỡ hàng hóa tại Cảng Quy Nhơn ẢNH: HOÀNG TRỌNG

Tháng 8.2016, ông Tô Tử Thanh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, có đơn kiến nghị Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm rõ vấn đề cổ phần hóa cảng Quy Nhơn.

Trong đó, ông Thanh yêu cầu làm rõ 3 nội dung chính: Ai chủ trương cổ phần hóa để bán 100% cảng Quy Nhơn cho tư nhân? Ai xác định giá trị tài sản nhà nước nắm giữ tại cảng Quy Nhơn chỉ hơn 400 tỉ đồng? Có lợi ích nhóm, móc ngoặc để biến tài sản nhà nước thành tài sản tư nhân trong quá trình cổ phần hóa cảng Quy Nhơn hay không?

Tháng 4.2017, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị thanh tra lại toàn bộ quá trình cổ phần hóa QNP. Sau đó, Thanh tra Chính phủ đã tiến hành thanh tra. Đến cuối tháng 7.2017, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục chỉ đạo khẩn trương thanh tra, kết luận rõ đúng sai trong việc cổ phần hóa QNP.

Sáng 20.1, trong buổi làm việc với Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định Nguyễn Thanh Tùng đề nghị Thủ tướng, lãnh đạo các bộ ngành làm sao để cảng Quy Nhơn trở lại là cảng của Nhà nước.

Bí thư tỉnh ủy Bình Định nói: "Tôi xin thay mặt cho cán bộ, nhân dân tỉnh Bình Định tha thiết đề nghị Thủ tướng làm sao cho cảng Quy Nhơn trở lại là cảng của tỉnh, của Nhà nước, không cổ phần hóa gì hết...".

Đón đọc: Bán cảng Quy Nhơn với giá 'bèo' - Kỳ 2: Định giá... 'đúng quy trình'

TNO.

Việt Nam mượn của Trung Quốc bao nhiêu?


Việt Nam hiện nợ Trung Quốc bao nhiêu là câu hỏi đáng hỏi, bởi vì chính Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam đã cảnh báo về các điều kiện không ưu đãi khi vay “tín dụng ưu đãi” của Trung Quốc.

Báo cáo “Cập nhật định hướng thu hút, và sử dụng vốn vay ODA và vay ưu đãi giai đoạn 2018-2020 và tầm nhìn 2021-2025” (3-8-2018) đã viết như sau (trích nguyên văn): “...tín dụng ưu đãi của Trung Quốc tương tự như các khoản tín dụng xuất khẩu, là các khoản vay có điều kiện (chỉ định thầu cho các doanh nghiệp Trung Quốc) và có điều kiện vay kém ưu đãi hơn so với vốn ODA của các nhà tài trợ khác tại Việt Nam. Lãi suất khoảng 3%/năm, phí cam kết 0.5%, phí quản lý 0,5%, thời hạn vay 15 năm, thời gian ân hạn năm năm... Tuy nhiên, một số dự án sử dụng vốn vay, nhà thầu, thiết bị Trung Quốc cũng thường xuyên chậm tiến độ, không đảm bảo chất lượng, tăng tổng mức đầu tư... ảnh hưởng hiệu quả đầu tư. Do đó, định hướng trong thời gian tới đối với việc vay nguồn tín dụng ưu đãi của Trung Quốc cần được xem xét, cân nhắc”.

Kể từ năm 2017, Việt Nam đã ra khỏi danh sách các nước nghèo được ưu tiên nhận vốn ưu đãi từ tổ chức quốc tế, do đó cần thay đổi chính sách phát triển dựa vào vốn nước ngoài. Ảnh: Internet


Lãi suất vay từ Trung Quốc như vậy là rất cao so với lãi suất 0% của Đan Mạch, 0,2% của Tây Ban Nha, 0,6-1,2% của Nhật, 1,04% của Pháp, 0,75% của Đức, 1,75% của Ấn Độ... Còn với các tổ chức quốc tế, lãi suất là 0,9% (Libor 6 tháng + 0,4-0,9%) tức là hiện nay vào khoảng 1,3-1,8%/năm và với thời hạn vay rất dài có thể tới 30 năm, thời gian ân hạn ít nhất là 5 năm.

Như vậy, câu hỏi quan trọng vẫn là cho đến nay số nợ của Việt Nam với Trung Quốc là bao nhiêu? Tại sao Việt Nam tiếp tục vay Trung Quốc để phải nhập công nghệ phế thải với điều kiện rất không ưu đãi? Và tình hình chính trị sẽ ra sao nếu công ty Việt Nam vay mượn tiền Trung Quốc phải chấp nhận chuyển giao sở hữu công trình cho ngân hàng chủ nợ của họ, một giải pháp bình thường trong thương mại, khi không trả được nợ? 

Mặc dù số nợ Trung Quốc cần theo dõi, nhưng rất tiếc không thể tìm thấy câu trả lời trong báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói đến ở trên. Bản báo cáo chỉ nói đến số tiền vay ODA từ Trung Quốc là 250 triệu đô la Mỹ, tức là chỉ khoảng 3,7% so với tổng số vay ưu đãi của Việt Nam là 6,78 tỉ đô la trong thời gian 2016-2017.

Phải nói kể từ năm 2011, Bộ Tài chính chỉ công bố tổng số nợ nước ngoài và đã chấm dứt việc công bố nợ từng nước. Bản tin nợ nước ngoài số 7 công bố năm 2011 cho thấy tổng số nợ của Chính phủ Việt Nam với Trung Quốc tính đến hết năm 2010 lên đến 552 triệu đô la Mỹ và khoản nợ do Chính phủ bảo lãnh là 1,12 tỉ đô la. Như vậy tổng số nợ Trung Quốc tính đến cuối năm 2010 mà Chính phủ trách nhiệm là 1,64 tỉ đô la. 

Theo một nghiên cứu chi tiết về các khoản nợ của các nước trong đó có Việt Nam với Trung Quốc, thì tổng số nợ của Việt Nam với Trung Quốc (bao gồm cả Chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư) có thể đã lên tới 4 tỉ đô la Mỹ, chỉ có thể tính đến hết năm 2013 (xem biểu 1 đính kèm). Số liệu trên cũng chưa thể tính trừ đi khoản nợ gốc đã trả. 


Tuy thế, nếu dựa vào số liệu nợ Trung Quốc là 4,1 tỉ đô la năm 2013, tính ra bằng 6,3% tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam (kể cả nợ của doanh nghiệp) là 63,5 tỉ đô la vào năm 2013. Dựa vào cùng tỷ lệ trên, và với số nợ nước ngoài hiện nay ước là 100 tỉ đô la Mỹ, có thể ước nợ Trung Quốc vào năm 2018 đã trên 6 tỉ đô la. Ngân hàng Thế giới tính số nợ nước ngoài của Việt Nam là 86,9 tỉ đô la vào cuối năm 2016. 

Số nợ Trung Quốc thật sự có thể lớn hơn số trên, vì từ sau năm 2010, Bộ Tài chính chỉ theo dõi và công bố nợ công tức là nợ của Chính phủ và nợ của doanh nghiệp do Nhà nước bảo lãnh, theo định nghĩa của Việt Nam. Từ 2011, bộ đã chấm dứt công bố nợ nước ngoài bao gồm cả nợ của doanh nghiệp tư nhân. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có bản hướng dẫn về nội dung quản lý nhà nước đối với vay và trả nợ của doanh nghiệp (03/VBHN-NHNN, 12-7-2017). Như thế về nguyên tắc, Ngân hàng Nhà nước nắm được thông tin nhưng không công bố. 

Việc quản lý nợ nước ngoài là quan trọng, chứ không chỉ nợ công. Mất khả năng chi trả, có thể đưa đến khủng hoảng kinh tế ngay lập tức, khi các ngân hàng nước ngoài chặn tài khoản quốc gia để đòi nợ. Đó là chưa kể đến các doanh nghiệp nước ngoài đòi con nợ chuyển sở hữu (tức là vĩnh viễn, chứ không chỉ là 99 năm).

Kể từ năm 2017, Việt Nam đã ra khỏi danh sách các nước nghèo được ưu tiên nhận vốn ưu đãi từ tổ chức quốc tế, do đó cần thay đổi chính sách phát triển dựa vào vốn nước ngoài, thay vì dựa vào mình là chính, có thể đưa Việt Nam đến bẫy nợ Trung Quốc. Do đó, để có thể theo dõi kinh tế Việt Nam nhằm có chính sách đúng đắn, Bộ Tài chính cần theo dõi sát sao và công bố nợ nước ngoài của Việt Nam, dù là nợ của Chính phủ hay của doanh nghiệp. Nếu không tự nguyện, Quốc hội nên có nghị quyết yêu cầu Bộ Tài chính thực hiện việc làm trên.

Sri Lanka đã rơi vào bẫy nợ của Trung Quốc khi không thể trả nợ tiền mượn xây dựng cảng nên đã phải nhượng cảng nước sâu Hambantoba cho Trung Quốc trong 99 năm. Mới đây, Thủ tướng mới của Malaysia, ông Mahathir, đã yêu cầu Trung Quốc xóa bỏ các công trình đầu tư chung, từ làm xe lửa cao tốc, nới biển xây khu vực công nghệ, cảng, và dự án nhà ở cho người Trung Quốc. Ông Mahathir lấy lý do không muốn phải rơi vào thế nhượng địa khi mất khả năng chi trả (theo NYT ngày 20-8-2018).

(TBKTSG)

Designed byTin không lề |