Tin không lề: Kinh tế

'Thu nhập bình quân đạt 18.000 USD vào năm 2045'


Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết mục tiêu của Chính phủ là duy trì tăng trưởng, để khi đất nước tròn 100 năm độc lập (2045), thu nhập bình quân đầu người đạt 18.000 USD.

Chiều 1/11, cuối phiên chất vấn kéo dài 3 ngày (từ 30/10 đến 1/11), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã dành thời gian phát biểu giải trình trước khi trả lời chất vấn Quốc hội.
Quy mô GDP năm 2045 đạt 2.500 tỷ USD

Đầu tiên, Thủ tướng cảm ơn sự tín nhiệm của các đại biểu Quốc hội dành cho Thủ tướng cũng như các thành viên Chính phủ. Ông cho rằng kết quả lấy phiếu tín nhiệm của Quốc hội, dù cao hay thấp đều có chung ý nghĩa thôi thúc Chính phủ trong việc thực hiện tốt hơn nữa các nhiệm vụ phát triển đất nước.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhìn nhận chặng đường phía trước sẽ không hề dễ dàng, thậm chí còn khó khăn và phức tạp hơn chặng đường đã đi qua.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Ảnh: Hoàng Hà.

“Với tốc độ tăng trưởng tương tự như mức tăng trung bình của 3 thập niên qua thì đến năm 2045 - mốc lịch sử 100 năm nước nhà được độc lập (1945-2045), quy mô GDP nước ta ước tính sẽ đạt mức khoảng 2.500 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người khoảng gần 18.000 USD”, ông nói.

Mục tiêu này là thách thức rất lớn vì khi thu nhập ngày càng cao, việc đạt thêm % tăng trưởng sẽ càng khó khăn. Ông cho rằng chúng ta và các thế hệ tiếp theo phải luôn nuôi dưỡng khát vọng và không ngừng phấn đấu nhằm hiện thực hóa mục tiêu này.

Đến năm 2045, quy mô GDP nước ta ước tính đạt khoảng 2.500 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người 18.000 USD

“Thế hệ hôm nay cần ý thức sâu sắc trách nhiệm nặng nề, đó là lát một viên đá trên con đường lịch sử hướng đến sự thịnh vượng cho dân tộc”, ông nói.

Thủ tướng nhấn mạnh phải tiếp tục đổi mới tư duy, cách nghĩ cách làm, tạo quyết tâm của toàn bộ hệ thống chính trị, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện tốt mọi chủ trương đường lối của Đảng. Khi xã hội khá giả hơn, nhu cầu không chỉ là “ăn ngon mặc đẹp”, mà còn là không gian phát triển ngày càng rộng mở hơn, hội nhập hơn với xu thế tiến bộ toàn cầu.

Ông cho rằng mục tiêu duy nhất là đưa con người vào trọng tâm của quá trình phát triển. Phát triển bền vững trên ba trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường, đảm bảo mọi thành viên trong xã hội có thể tham gia đóng góp và hưởng lợi tương xứng từ tăng trưởng, không để ai bị bỏ lại phía sau, đó là nền tảng của phát triển bao trùm.
Nhiệm vụ phát triển phải nắm bắt xu thế công nghệ

Thủ tướng cho rằng nhiệm vụ phát triển đặt ra cho Việt Nam trong 5-10 năm tới và xa hơn đòi hỏi chúng ta phải nắm bắt những xu thế công nghệ và chuyển động của thế giới toàn cầu hóa mà chúng ta đang phải đối mặt

Thủ tướng nhắc đến câu nói: “Một đàn chim muốn bay nhanh không chỉ do con chim đầu đàn quyết định mà còn phụ thuộc vào con chim cuối đàn”. Tuy nhiên, ông cho rằng “đàn chim sẽ bay nhanh hơn rất nhiều nếu mọi con chim cuối đàn đều có chung khát vọng, vượt lên chính mình, bay nhanh hơn nữa để có cơ hội gia nhập vào nhóm đầu đàn”.

Thủ tướng cho rằng nếu tất cả 63 tỉnh thành, những người ngồi đây, cùng toàn bộ hệ thống chính trị cùng chung khát vọng đó, trong mọi hoàn cảnh trên từng chặng đường phát triển của đất nước thì chắc chắn Việt Nam sẽ tiến một bước rất dài đến con đường thịnh vượng, sánh vai được với các cường quốc năm châu như mong ước của Bác Hồ năm xưa.

Thủ tướng cũng nhắc lại câu nói của anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo đã chỉ ra chân lý là phải khoan thư sức dân thì đất nước mới mạnh, mới sâu rễ bền gốc. Để khoan thư sức dân, ông cho rằng các ngành, các cấp phải nêu gương trong việc tiết kiệm công quỹ, quyết liệt chống tiêu cực, lãng phí.

Cần rút kinh nghiệm sâu sắc và không để tái diễn vụ việc Con Cưng hay vụ phạt tiền 90 triệu đồng đối với hành vi đổi 100 USD 

Không chỉ vậy, mọi người, đặc biệt là cấp lãnh đạo phải là những tấm gương về tinh thần làm việc tận tụy, trách nhiệm, sáng tạo, hiệu quả, vì lợi ích chính đáng của người dân và doanh nghiệp.

Người đứng đầu Chính phủ cho rằng chúng ta cần rút kinh nghiệm sâu sắc và không để tái diễn vụ việc Con Cưng hay gần đây là vụ phạt tiền 90 triệu đồng đối với hành vi đổi 100 USD không đúng quy định... Ông cũng đề nghị sửa lại nghị định 96/2014/NĐ-CP về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.

Thủ tướng cho biết dân số Việt Nam dự báo sẽ đạt 96.963.958 người vào đầu năm 2019. Ông cho rằng nói đến con số lẻ để hiểu và đặt sự lưu tâm đến từng người dân, không để bất kỳ ai bị bỏ sót hay cảm thấy bị bỏ sót trong các chính sách phát triển.
9 trọng tâm trong thời gian tới

Kết thúc bài trình bày, Thủ tướng cảm ơn các đại biểu Quốc hội về những ý kiến thảo luận, chất vấn đã giúp Chính phủ nhận diện rõ nét hơn những hạn chế, bất cập, trên cơ sở đó đề ra chương trình hành động và giải pháp sát thực tiễn để giải quyết những vấn đề đang đặt ra.

Thủ tướng nhắc lại bài phát biểu của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong lễ nhậm chức: “Tuyệt đối không được chủ quan, thỏa mãn, không được quá say sưa với thắng lợi, càng không được ngủ quên trên vòng nguyệt quế”.

Thủ tướng cảm ơn các đại biểu Quốc hội về những ý kiến thảo luận, chất vấn đã giúp Chính phủ nhận diện rõ nét hơn những hạn chế, bất cập. Ảnh: Ngọc Duy.

Ông đề nghị tất cả hãy cùng nhau tập trung sức lực, làm thật tốt những nhiệm vụ trong những tháng còn lại của năm 2018 cũng như thời gian còn lại của nhiệm kỳ này. Thủ tướng điểm 9 trọng tâm sắp tới của Chính phủ:

Thứ nhất, kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, bảo đảm an toàn tài chính quốc gia, an ninh tiền tệ, an ninh lương thực, an ninh truyền thống và phi truyền thống.

Thứ hai, quyết liệt tái cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ ba, thực hiện nghiêm túc kế hoạch tài chính 5 năm 2016-2020, sử dụng ngân sách hiệu quả, chống thất thu.

Thứ tư, thực hiện mạnh mẽ 3 đột phá chiến lược, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải chiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh.

Thứ năm, ưu tiên phát triển bền vững văn hóa, xã hội, y tế, đầu tư phát triển giáo dục theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế.

Thứ sáu, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tiêu cực, xử lý nghiêm những vụ án tham nhũng.

Thứ bảy, tăng cường quốc phòng an ninh, đảm bảo độc lập, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội và môi trường hòa bình để phát triển đất nước.

Thứ tám, nâng cao hiệu quả đổi ngoại và chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước.

Thứ chín, nỗ lực hết sức nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế tinh gọn và hiệu quả, xứng đáng với niềm tin của nhân dân và Quốc hội.

Zing.

Dân Việt gánh mỗi người 34 triệu đồng nợ công


Một phụ nữ gánh hàng rong đi qua một pano tuyên truyền Đại hội đảng toàn quốc trên đường phố Hà Nội ngày 15 tháng 1 năm 2016.

Dư nợ công của Việt Nam năm 2018 ước tính đạt 3,4 triệu tỷ đồng, tăng so với năm 2017 (3,1 triệu tỷ đồng), và như vậy hiện nay bình quân mỗi người Việt gánh hơn 34 triệu đồng.

Đó là số liệu được ông Nguyễn Đức Hải, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách đưa ra trong phiên báo cáo Thẩm tra về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2018, dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2019 diễn ra hôm 22/10 tại Hà Nội.

Truyền thông trong nước đưa tin trích nhận định của Ủy ban Tài chính Ngân sách Việt Nam cho rằng tỷ lệ nợ công so với tổng thu nhập GDP có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Số liệu được báo cáo đưa ra cho thấy tỷ lệ nợ công so với GDP giảm qua các năm 2017, 2018 và 2019 lần lượt là 62,6%, 61,4% và dự kiến 61,3%

Tuy nhiên, Ủy ban này cho biết nợ Chính phủ và nợ nước ngoài của quốc gia lại tăng, đặc biệt nợ nước ngoài đã tăng dần tới trần cho phép là 50% GDP. Ông Nguyễn Đức Hải cho biết số liệu cụ thể như sau: nợ của chính phủ qua các năm 2017, 2018, 2019 lần lượt là 51,8%, 52,1% và dự kiến 52,2% so với GDP, nợ nước ngoài của quốc gia qua 3 năm lần lượt là 45,2%, 49,7% và dự kiến 49,9% so với GDP. Ngoài ra, số vay để trả nợ gốc hàng năm được nói có xu hướng tăng nhanh.

Về cân đối ngân sách, Ủy ban Tài chính Ngân sách cho biết Chính phủ dự ước bội chi ngân sách Nhà nước bằng dự toán năm 2018, dự kiến bội chi ngân sách năm 2019 khoảng 3,6 % GDP, giảm 0,1% so với 2018. Chính phủ Việt Nam nói sẽ kiên quyết ưu tiên giảm bội chi theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.

Ông chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách trích báo cáo nhận định các chỉ tiêu này vẫn trong giới hạn cho phép, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro.

Báo cáo của Bộ Tài chính sáng 22/10 cũng cho biết các khoản thu ngân sách từ 3 khu vực kinh tế chính của Việt Nam đều không đạt chỉ tiêu. Khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 4.900 tỷ đồng, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 33.600 tỷ đồng, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh giảm 4.850 tỷ đồng.

Tổng thu cả nước năm 2018 được công bố đạt hơn 1,3 triệu tỷ đồng, chi thường xuyên chiếm gần 989 nghìn tỷ đồng (72,8%), chi trả nợ lãi 112,5 nghìn tỷ đồng (chiếm 8,3%.)

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội Vũ Hồng Thanh nhận định, tổng thu ngân sách nhà nước vượt dự toán nhưng chưa thật sự bền vững và làm rõ vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương.

RFA.

Chủ dự án trên đất vàng 5.000 m2 ‘doạ’ kiện UBND TP HCM


Tổng giám đốc Lavenue cho rằng công ty sẽ phá sản và buộc phải khởi kiện UBND TP HCM nếu dự án tại số 8-12 Lê Duẩn bị thu hồi.

Giữa tháng 10, Công ty cổ phần Đầu tư Lavenue gửi công văn đến Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề xuất được tiếp tục triển khai dự án xây khách sạn năm sao và trung tâm thương mại trên khu đất vàng 5.000 mét vuông tại 8-12 Lê Duẩn (quận 1, TP HCM). Đây là lô đất bị Thanh tra Chính phủ kiến nghị thu hồi do UBND TP HCM bán cho tư nhân sai quy định, gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng. 

“Không thể vì thiếu sót của lãnh đạo thành phố mà đề nghị thu hồi dự án. Nếu lãnh đạo có thiếu sót thì một phần là do áp lực thu ngân sách của thành phố trong giai đoạn khủng hoảng, họ hoàn toàn không có vụ lợi gì từ việc chấp thuận cho dự án của chúng tôi”, ông Đỗ Minh Quân (Tổng giám đốc Lavenue) viết.

Theo ông Quân, Lavenue là doanh nghiệp bỏ vốn kinh doanh và hoàn toàn không có vi phạm trong dự án này. Giá nộp tiền sử dụng đất cho ngân sách của thành phố cũng cao gấp hai lần giá thị trường vào thời điểm bất động sản đóng băng.

Doanh nghiệp này ước tính đến nay đã chi xấp xỉ 1.500 tỷ đồng để thực hiện dự án, bao gồm 624 tỷ nộp tiền sử dụng đất cho TP HCM, 23 tỷ nộp tiền thuê đất cho ngân sách nhà nước, 148 tỷ thuê tư vấn nước ngoài và 687 tỷ tiền lãi vay. Con số tương đương với giá thị trường của khu đất này theo khảo sát của Thanh tra Chính phủ là 2.000 tỷ đồng.

“Nếu dự án bị thu hồi, công ty sẽ phá sản, cán bộ nhân viên sẽ không có việc làm. Chúng tôi bắt buộc khởi kiện UBND TP HCM ra toà án và trọng tài kinh tế quốc tế để đảm bảo quyền lợi cũng như trách nhiệm với các cổ đông”, ông Quân khẳng định.
Khu đất vàng toạ lạc tại số 8-12 Lê Duẩn, quận 1. Ảnh: Quỳnh Trần.


Trả lời VnExpress đầu tháng 10, sau khi có kết luận của Phó thủ tướng thường trực Trương Hoà Bình, UBND TP HCM cho biết sẽ kiểm điểm các cá nhân, tổ chức liên quan việc bán rẻ khu đất. Trong đó, Sở Tài nguyên và Môi trường phụ trách thu hồi, tổ chức đấu thầu lại khu đất còn Sở Nội vụ tham mưu kế hoạch kiểm điểm, kể cả với cán bộ nhiệm kỳ trước.

Khu đất gần 5.000 m2 tại số 8-12 Lê Duẩn có vị trí đắc địa bậc nhất Sài Gòn. Trước năm 2007, lô đất do Công ty TNHH MTV Quản lý kinh doanh nhà TP HCM quản lý và cho bốn công ty cổ phần: Thiết bị phụ tùng Sài Gòn, Kim khí Thành phố, Hóa chất vật liệu điện thành phố và Vận tải xăng dầu (thuộc Bộ Công Thương) thuê làm trụ sở.

Sau đó, UBND TP HCM có chủ trương sử dụng khu đất này để xây dựng khách sạn tiêu chuẩn năm sao và một phần trung tâm thương mại. Công ty Quản lý kinh doanh nhà TP HCM được giao trách nhiệm thu hồi và quản lý mặt bằng trong thời gian chuẩn bị đầu tư xây dựng dự án.

Theo nguyên tắc, TP HCM phải cho đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư có uy tín, kinh nghiệm trong lĩnh vực khách sạn nhưng theo đề nghị của Bộ Công Thương (đơn vị thuê đất) và sau nhiều lần thay đổi về chủ trương, phương thức đầu tư, năm 2010, UBND TP đồng ý phương án thành lập công ty cổ phần để thực hiện dự án. Công ty TNHH MTV Quản lý kinh doanh nhà TP HCM góp vốn 50%; còn lại do bốn công ty thuộc Bộ Công Thương góp (chia đều mỗi công ty là 12,5%).

Chỉ trong vòng hai tháng sau, dự án trên khu đất vàng này đã bán 80% cổ phần cho doanh nghiệp tư nhân. Trong đó, Công ty TNHH MTV Quản lý kinh doanh nhà chia lại 30% vốn góp (trong phần tỷ lệ vốn góp 50%) cho Công ty TNHH MTV Hoa Tháng Năm. Doanh nghiệp này chưa tham gia bất cứ dự án nào từ khi thành lập, về năng lực tài chính cũng không có cơ quan nào thẩm định. Bốn doanh nghiệp của Bộ Công Thương (sau này là cổ đông sáng lập Lavenue) ký thoả thuận nguyên tắc với Công ty TNHH Đầu tư Kinh Đô để chuyển nhượng quyền đầu tư phát triển dự án trên khu đất.

Tháng 6/2011, Lavenue được UBND TP HCM chấp thuận cho sử dụng toàn bộ khu đất trên để đầu tư xây dựng khách sạn cao cấp, thương mại dịch vụ, căn hộ cho thuê với thời hạn sử dụng đất là 50 năm. Hình thức sử dụng đất là Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất tại số 8 Lê Duẩn và cho thuê trả thuê hàng năm với khu đất số 12 Lê Duẩn.

Giá trị quyền sử dụng đất và giá trị công trình xây dựng trên đất tại số 8 Lê Duẩn (3.433 m2), theo giá trị trường là hơn 621,7 tỷ đồng. Đơn giá thuê đất tại số 12 Lê Duẩn theo giá thị trường là hơn 3,5 triệu đồng mỗi m2 một năm. Sở Tài chính TP HCM thẩm định giá lại kết quả của đơn vị tư vấn, đơn giá quyền sử dụng đất của khu đất số 8 Lê Duẩn là gần 177 triệu đồng mỗi m2 và đơn giá cho thuê đất trả tiền hàng năm là 3,53 triệu đồng mỗi m2.

Tuy nhiên, theo Thanh tra Chính phủ, hiện nay giá đất tại khu vực đường Lê Duẩn khu trung tâm tới trên 400 triệu đồng mỗi m2. Nếu đấu giá khu đất này có thể thu về trên 2.000 tỷ đồng.

VNE.

Cựu trung tá công an liên quan đến vụ án Vũ ‘Nhôm’ nhận tội


Ông Trần Phương Bình, nguyên Tổng giám đốc DongA Bank và ông Phan Văn Anh Vũ (Vũ “nhôm”)

Tình tiết mới nhất quanh vụ án Vũ ‘Nhôm’ được biết liên quan đến ông Nguyễn Hồng Ánh, cựu trung tá, đội trưởng một đội nghiệp vụ công an Thành phố Hồ Chí Minh, thú nhận đã gây thiệt hại cho Ngân hàng Đông Á (DAB) 53 tỷ đồng.

Mạng báo Tiền Phong trong nước loan tin vừa nêu hôm 18/10 trích kết luận điều tra bổ sung của Cơ quan điều tra, Bộ Công an trong vụ án Ngân hàng Đông Á làm thất thoát 3.500 tỷ đồng.

Cáo trạng cho rằng ông Nguyễn Hồng Ánh đã cấu kết với ông Trần Phương Bình (Nguyên Tổng giám đốc, Phó chủ tịch Hội Đồng Quản Trị và Chủ tịch Hội đồng tín dụng DAB) ký khống chứng từ vay 1.900 lượng vàng (tương đương 53 tỷ đồng) tại DAB. Quá trình điều tra trước đây, ông Ánh được nói không hợp tác làm việc và không khai báo thành khẩn nên bị Viện kiểm sát đề nghị xử nghiêm. Tin cho biết vợ của ông cựu trung tá đã khắc phục hậu quả bằng cách nộp 500 triệu đồng vào tài khoản của Cục Cảnh sát Điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu tại kho bạc nhà nước.

Cáo trạng lần này cũng khẳng định ông Trần Phương Bình bị truy cứu về hành vi ‘Lạm dụng tín nhiệm chiến đoạt tài sản’ và ‘Cố ý làm trái quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.’ Ông Bình bị cáo buộc đã gây thiệt hại cho DAB hơn 3.400 tỷ đồng, hơn 24 triệu USD, và hơn 15000 lượng vàng. Sai phạm của ông này được cho rằng là nguyên nhân khiến DAB hiện nay lỗ lũy kế hơn 31.000 tỷ đồng.

Liên quan đến Vũ ‘Nhôm’, ông này bị Viện kiểm sát kết tội ‘Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản’ với cáo buộc gây thiệt hại cho DAB 200 tỷ đồng, thông qua việc sở hữu 12,73% cổ phần và việc thế chấp đất đai vay tiền.

Ngoài bị cáo Bình và Vũ ‘Nhôm’, còn có 24 người khác cũng quy buộc phạm tội liên quan đến Ngân hàng Đông Á.

Vũ ‘Nhôm’ tên thật là Phan Văn Anh Vũ, 43 tuổi, là một cựu sĩ quan tình báo của cơ quan An ninh Việt Nam, mang hàm thượng tá. Ông này từng kinh doanh nhôm kính nên có biệt danh Vũ ‘Nhôm.’

Tháng 12/2017, Bộ Công an phát lệnh truy nã Vũ ‘Nhôm’ và bắt tạm giam vào tháng 1/2018 sau khi ông này bị Singapore trục xuất về Việt Nam. Ngày 30/7/2018, Vũ ‘Nhôm’ bị Tòa án Nhân dân Hà Nội tuyên án 9 năm tù giam với cáo buộc ‘Cố ý làm lộ bí mật nhà nước.’

RFA.

Ngân sách 2018 thâm hụt gần 9 tỷ USD


Thu ngân sách năm nay vượt dự toán chủ yếu do tăng thu từ nhà, đất và dầu thô. 

Kiểm toán Nhà nước vừa gửi tới Quốc hội báo cáo tình hình thực hiện ngân sách Nhà nước 2018, dự toán ngân sách 2019. 

Cơ quan kiểm toán cho biết, thu ngân sách Nhà nước năm nay ước đạt trên 1,35 triệu tỷ đồng; chi ngân sách hơn 1,56 triệu tỷ đồng. Như vậy, bội chi ngân sách 204.000 tỷ đồng (khoảng 8,8 tỷ USD), bằng 3,67% GDP, tương ứng với tỷ lệ bội chi kế hoạch Quốc hội giao.

Giá dầu thô tăng cao giúp ngân sách tăng thu đáng kể. Ảnh: AFP.

Tuy nhiên, Kiểm toán Nhà nước cho rằng, số bội chi có thể giảm "nếu Chính phủ rà soát, điều chỉnh kế hoạch vốn 2018 phù hợp với khả năng giải ngân 88,2% dự toán.

Xét về giá trị tuyệt đối, thâm hụt ngân sách năm nay nằm trong kế hoạch Quốc hội giao và thấp hơn 0,03% GDP về tỷ lệ, dù vậy vẫn tiềm ẩn những tồn tại trong cơ cấu nguồn thu, chi.

Theo rà soát của Kiểm toán Nhà nước, tổng thu cân đối ngân sách 2018 trên 1,35 triệu tỷ đồng, vượt dự toán 39.200 tỷ đồng. Con số này tăng 3% dự toán, nhưng là tỷ lệ tăng thấp nhất so với kết quả thực hiện 4 năm gần đây (năm 2014, 2015 tăng 9,6%; 2016 là 9,2% và 2017 tăng 6,2% so với dự toán). 

Số thu vượt dự toán chủ yếu từ các nguồn thu về nhà, đất và dầu thô. Trong khi khoản thu từ đất không ổn định, thu từ dầu thô tăng do giá lập dự toán 50 USD một thùng, thấp hơn thực tế 23,5 USD và sản lượng tăng 450.000 tấn. 

Các nguồn thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đều giảm, lần lượt trên 4.900 tỷ đồng, 33.646 tỷ và 4.855 tỷ đồng. 

Kiểm toán Nhà nước cũng nhận thấy, một nửa địa phương không đạt số thu ngân sách, trong đó 2 đầu tàu kinh tế là Hà Nội và TP HCM hụt thu hai năm liên tiếp. Thu ngân sách Trung ương vượt dự toán, chiếm 44,7% tổng thu nhưng thấp hơn nhiều mục tiêu 60-65% giai đoạn 2016-2018.

Qua kiểm toán cho thấy vẫn phổ biến tình trạng kê khai thuế không đầy đủ; nguồn thu từ cổ tức, lợi nhuận của các doanh nghiệp nhà nước còn chưa nộp kịp thời vào ngân sách 516 tỷ đồng. Ngoài ra, việc quản lý phần thu ngân sách từ tiền sử dụng đất, nhất là giao đất thực hiện dự án chủ yếu theo hình thức chỉ định nhà đầu tư, không qua đấu giá... làm thất thoát ngân sách buộc Kiểm toán Nhà nước kiến nghị tăng thu, giảm chi hơn 3.850 tỷ. 

Năm 2019, kịch bản dự toán ngân sách 2019 được xây dựng trên cơ sở dự báo tăng trưởng kinh tế 6,6 - 6,8%. Theo đó, Chính phủ trình Quốc hội thu ngân sách hơn 1,41 triệu tỷ đồng, tăng 3,9% so với 2018. Tổng chi ngân sách hơn 1,44 triệu tỷ đồng. 

Như vậy, ngân sách năm sau bội chi khoảng 222.000 tỷ đồng, tương đương 3,6% GDP. Con số này giảm 0,1 điểm phần trăm so năm 2018, nhưng tăng 18.000 tỷ đồng nếu xét số bội chi tuyệt đối.

Vẫn như kịch bản thu ngân sách nhiều năm, nguồn thu của quốc gia vẫn dựa vào ba khoản chính là thu nội địa, thu từ dầu thô và khoản từ hoạt động xuất nhập khẩu. Theo kế hoạch, thu nội địa gần 1,17 triệu tỷ đồng, chiếm 83,2 dự toán thu ngân sách Nhà nước; thu từ thuế, phí khoảng 945.000 tỷ đồng.

Khoản thu từ dầu thô là 44.600 tỷ đồng, giảm 10.400 tỷ so với năm 2018. Con số này được tính trên cơ sở sản lượng khai thác trong nước 10,43 triệu tấn, giảm 1,33 triệu tấn và giá dầu 65 USD một thùng.

Tuy nhiên, theo Kiểm toán Nhà nước, báo cáo Chính phủ chưa phân tích việc giảm sản lượng khai thác dầu và giá dầu dự kiến cũng thấp hơn số thực hiện năm 2018, cũng như dự báo của các tổ chức quốc tế. Chưa kể, từ năm 2019, tỷ lệ lãi dầu khí để lại 32% được đưa vào cân đối ngân sách Nhà nước nhưng chưa được thuyết minh cụ thể số liệu trong dự toán. Vì lẽ đó, Kiểm toán Nhà nước đề nghị Chính phủ phân tích rõ hơn. 

Kiểm toán Nhà nước cũng lưu ý mối lo áp lực trả nợ năm 2019 khá lớn dù nghĩa vụ nợ trực tiếp trên tổng thu ngân sách vẫn trong giới hạn cho phép. Dự kiến chi trả nợ lãi năm sau 124.800 tỷ, tăng 12.300 tỷ so với dự toán 2018. Khoản này chưa gồm nợ gốc phải trả 197.000 tỷ đồng, trong đó nghĩa vụ trả nợ gốc của Chính phủ khoảng 182.000 tỷ, gây áp lực lớn cho ngân sách.

VNE.

Truy tố Vũ 'nhôm' và 25 đồng phạm gây thiệt hại cho DAB 3.600 tỷ


Phan Văn Anh Vũ cùng 25 bị can khác bị truy tố trong vụ án gây thiệt hại cho Ngân hàng Đông Á hơn 3.600 tỷ đồng.

Theo TTXVN, Viện KSND Tối cao vừa ban hành cáo trạng truy tố Phan Văn Anh Vũ (tức Vũ "nhôm, Chủ tịch HĐQT Công ty CP xây dựng Bắc Nam 79) cùng 25 bị can khác trong vụ án gây thiệt hại cho Ngân hàng TMCP Đông Á (DAB) hơn 3.600 tỷ đồng.

Trong đó, Vũ "nhôm", Phạm Văn Phước (nguyên Giám đốc Công ty CP lương thực Nam Định) bị truy tố về tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.


Vũ "nhôm" lại tiếp tục bị truy tố. Đồ họa: Châu Châu.


Hai bị can Trần Phương Bình (nguyên Tổng giám đốc, Phó chủ tịch HĐQT, Chủ tịch Hội đồng tín dụng DAB), Nguyễn Thị Kim Xuyến (nguyên Phó tổng giám đốc, thành viên HĐQT DAB) cùng bị truy tố về tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản và Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.

Ba bị can Nguyễn Thị Cúc (nguyên Trưởng ban kiểm soát DAB), Phan Thị Tố Loan, Nguyễn Vinh Sơn (cùng là thành viên chuyên trách Ban kiểm soát DAB) bị truy tố về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

19 bị can còn lại bị truy tố về cùng tội Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.

Theo cáo trạng, bị can Trần Phương Bình là người lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt tài sản, chỉ đạo các hoạt động ngân quỹ, đầu tư tại DAB trái quy định, khiến ngân hàng này thiệt hại hơn 3.600 tỷ đồng.

Cơ quan tố tụng cáo buộc hành vi vi phạm của ông Trần Phương Bình là nguyên nhân dẫn đến việc DAB lỗ lũy kế đến 31.000 tỷ đồng và âm vốn chủ sở hữu hơn 25.000 tỷ đồng vào cuối năm 2015.

Phan Văn Anh Vũ bị cáo buộc đã lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt 203 tỷ đồng.


Ông Trần Phương Bình, nguyên Tổng giám đốc DongAbank. Ảnh: Người Lao Động.


Cáo trạng xác định ông Trần Phương Bình đã xuất quỹ sai nguyên tắc, chi 200 tỷ cho Phan Văn Anh Vũ để mua cổ phần của DAB 5 năm trước - thời điểm DAB làm ăn thua lỗ kéo dài, thiếu hụt lượng lớn tiền và vàng trong kho quỹ. Mong muốn có doanh nghiệp tiềm lực về tài chính, quan hệ đầu tư vào DAB, ông Bình đề ra chủ trương tăng vốn điều lệ DAB từ 5.000 tỷ lên 6.000 tỷ đồng.

Cuối năm 2013, ông Bình và Phan Văn Anh Vũ thống nhất việc Vũ sẽ mua 60 triệu cổ phần của DAB với giá 600 tỷ đồng. Nếu việc mua bán thành công, Vũ trở thành cổ đông lớn, nắm quyền chi phối hoạt động DAB.

Vũ "nhôm" thế chấp 220 lô đất tại TP Đà Nẵng lấy 400 tỷ đồng của DAB rồi dùng chính số tiền này mua cổ phần ngân hàng. Số tiền 200 tỷ đồng còn thiếu, ông Bình chỉ đạo cấp dưới xuất quỹ chi cho Vũ. Sau đó, Vũ ký chứng từ nộp khống 200 tỷ đồng tại DAB.

Do việc tăng vốn điều lệ lên 6.000 tỷ đồng không thành, tháng 4/2014, ông Bình chỉ đạo DAB trả lại 600 tỷ đồng lại cho công ty của Vũ.

Lúc này, ông Trần Phương Bình và Vũ tiếp tục bàn bạc, đi đến thống nhất ông Bình sẽ bán cho công ty của Vũ 50 triệu cổ phần DAB từ 4 cổ đông hiện hữu là 4 công ty sân sau của ông Bình với giá 500 tỷ.

Trong số 500 tỷ có 200 tỷ được thu khống nên ông Bình đề nghị Vũ hoàn trả. Phan Văn Anh Vũ đề nghị ông Bình chờ đến lúc ông ta bán đất ở Đà Nẵng sẽ trả tiền nhưng đến nay chưa thực hiện.

Tháng 8/2015, trước khi DAB bị kiểm soát đặc biệt, Vũ còn mua hơn 13 triệu cổ phần DAB từ công ty sân sau của ông Bình với giá hơn 136 tỷ đồng. Tuy nhiên, Vũ mới thanh toán 46 tỷ.



Truy to Vu 'nhom' va 25 dong pham gay thiet hai cho DAB 3.600 ty hinh anh 3
Zing.

Thất thoát ngàn tỉ khi đất công thành đất tư


Dự án khu văn phòng - dịch vụ ngõ 164 Khuất Duy Tiến phải nộp bổ sung 58,6 tỉ đồng tiền sử dụng đất - Ảnh: VTC

Thanh tra Chính phủ mới đây đã kết luận quá trình chuyển đổi đất công thành đất tư của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước tại Hà Nội trong giai đoạn 2003 - 2016 có nhiều kẽ hở gây thất thoát ngân sách.

Kết luận thanh tra về việc chuyển đổi, chuyển nhượng nhà đất của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước (DNNN), nhà đất có vị trí đắc địa sang mục đích khác tại Hà Nội, giai đoạn 2003 - 2016, phát hiện hàng loạt sai phạm trong quá trình chuyển đổi 69 dự án có vị trí đắc địa, với tổng diện tích đất chuyển đổi khoảng 180ha.

Chây ì tiền sử dụng đất


Thanh tra trực tiếp tại 38 dự án, Thanh tra Chính phủ đã phát hiện tại dự án tòa nhà hỗn hợp văn phòng, dịch vụ thương mại, khách sạn và căn hộ thương mại tại 44 Yên Phụ, do Công ty CP Tháp nước Hà Nội đầu tư đã chuyển đổi 6.800m2 đất công thành đất tư để thực hiện dự án đầu tư, kinh doanh bất động sản. Nguồn gốc đất của dự án trước khi chuyển mục đích sử dụng là đất công do Công ty Kinh doanh nước sạch Hà Nội quản lý, sử dụng.

Việc góp vốn này theo kết luận thanh tra là trái quy định của nghị định 91 năm 2015, DNNN không được góp vốn đầu tư kinh doanh bất động sản. Tháng 5-2018, TP Hà Nội đã có văn bản yêu cầu Công ty Kinh doanh nước sạch Hà Nội phải bán vốn góp tại Công ty CP Tháp nước Hà Nội, nhưng đến thời điểm thanh tra việc bán vốn nhà nước chưa được thực hiện.

Một trường hợp chuyển đổi đất công khác diễn ra vào năm 2010, Công ty CP Dệt Hà Đông Hanosimex đã chuyển đổi 19.594m2 đất để thực hiện dự án trung tâm thương mại, nhà ở thấp tầng và cao tầng Hano-Vid số 430 Cầu Am qua hình thức ký hợp đồng hợp tác với Công ty CP Tập đoàn Đầu tư phát triển Việt Nam. 

Hai bên đã thống nhất lập ra công ty mới để thực hiện dự án 430 Cầu Am (Hà Đông). Năm 2014, TP Hà Nội đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất dự án, nhưng đến thời điểm thanh tra chủ đầu tư mới nộp 206,6 tỉ đồng tiền sử dụng đất, còn nợ ngân sách 21,4 tỉ đồng.

Đối với dự án nhà điều hành sản xuất, văn phòng cho thuê, chung cư và trung tâm thương mại số 31 Láng Hạ (quận Ba Đình) do Công ty CP Mặt trời - Đường sắt Việt Nam làm chủ đầu tư. Diện tích sử dụng đất dự án 10.071,7m2. 

Đây là khu đất được giao cho Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, được TP Hà Nội cho phép chuyển mục đích sử dụng, tổng công ty đã liên kết với một doanh nghiệp tư nhân để thực hiện dự án. Tuy nhiên, chỉ đến khi Thanh tra Chính phủ vào cuộc, xác định số tiền sử dụng đất dự án, tiền chậm nộp ngân sách lên tới 741 tỉ đồng thì chủ đầu tư mới thực hiện các nghĩa vụ tài chính đất đai.

Sai phạm lên tới hơn 3.900 tỉ đồng


Quá trình thanh tra các dự án, cơ quan thanh tra phát hiện Sở Quy hoạch - kiến trúc Hà Nội đã không tuân thủ quy định pháp luật khi chấp thuận phương án kiến trúc các dự án. Vì vậy, có 10 dự án được cấp phép thêm các tầng kỹ thuật không đúng quy hoạch. Chủ đầu tư 10 dự án lợi dụng công năng tầng kỹ thuật được cấp để làm văn phòng, dịch vụ thương mại.

Cũng theo kết luận thanh tra, việc tính toán và phê duyệt giá thu tiền sử dụng đất đối với các dự án đã không căn cứ vào thông tư 145 năm 2007 của Bộ Tài chính và thông tư 36 năm 2014 của Bộ Tài nguyên - môi trường về phương pháp xác định giá đất. Dẫn tới chủ đầu tư được hưởng lợi kinh tế, ngân sách thất thu số tiền lớn. 

Đoàn thanh tra tạm tính số tiền sử dụng đất phải thu thêm tại 30/38 dự án lên tới 1.480 tỉ đồng. Riêng dự án trung tâm thương mại, văn phòng, căn hộ tại 302 Cầu Giấy, đoàn thanh tra xác định số tiền sử dụng đất phải thu thêm 403,3 tỉ đồng.

Kiểm tra 38 dự án, cơ quan thanh tra phát hiện 8 dự án nợ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền chậm nộp, tổng số tiền lên tới 1.951,2 tỉ đồng. Trong đó, nợ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất 1.462,3 tỉ đồng, tiền chậm nộp 488,9 tỉ đồng, vi phạm nghiêm trọng Luật đất đai 2013.

Qua phát hiện của đoàn thanh tra, các chủ đầu tư đã nộp bổ sung 1.106,3 tỉ đồng, số tiền vẫn còn nợ đọng tới nay khoảng 845 tỉ đồng. Thanh tra Chính phủ xác định trách nhiệm thuộc UBND TP Hà Nội, Cục Thuế Hà Nội và các chủ đầu tư dự án.

Kết luận của Thanh tra Chính phủ, tổng số tiền sai phạm được phát hiện qua thanh tra 38 dự án chuyển mục đích sử dụng đất là 3.974,1 tỉ đồng. Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị Thủ tướng giao chủ tịch UBND TP Hà Nội xử lý nghiêm những tồn tại, thiếu sót, vi phạm trong công tác quản lý đầu tư xây dựng, quản lý sử dụng đất trên địa bàn và sớm có giải pháp chấn chỉnh, khắc phục.

Kết luận thanh tra chuyển đổi đất đai giai đoạn 2003 - 2016 tại Hà Nội ghi nhận có 58 dự án đã hoàn thành việc nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất vào ngân sách nhà nước, với tổng số tiền đã nộp 12.968,9 tỉ đồng; 6 dự án đã xác định nghĩa vụ tài chính đất đai phải nộp 1.869,4 tỉ đồng, nhưng chủ đầu tư mới nộp 545 tỉ đồng, còn nợ hơn 1.324 tỉ đồng; và 5 dự án chưa xác định nghĩa vụ đất đai.

Tuổi trẻ.

Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn sử dụng sai 1.900 ha đất





Tổng Kiểm toán Nhà nước nhận định việc công ty hợp tác, góp vốn, giao đất… là sai quy định của Thủ tướng và quyết định của UBND TP.HCM.


Tổng Kiểm toán Nhà nước (KTNN) Hồ Đức Phớc đã gửi thông báo kết quả kiểm toán đối với Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn (TCT) về vấn đề quản lý, sử dụng đất.


KTNN chỉ rõ TCT đã sử dụng sai hàng ngàn hecta đất.

Hơn 1.900 ha đất góp vốn


Theo KTNN, TCT, Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu Nông Lâm Hải sản (100% vốn của TCT) đã ký 10 hợp đồng góp vốn thành lập pháp nhân mới để hợp tác đầu tư trên 24 khu đất có tổng diện tích hơn 1.900 ha. 24 khu đất này có 16 cơ sở nhà, đất do TCT quản lý, hai khu đất do Công ty TNHH MTV Bò sữa TP.HCM quản lý, một khu đất do Công ty TNHH MTV Cây trồng TP.HCM quản lý và năm cơ sở nhà, đất do Công ty TNHH MTV XNK Nông Lâm Hải sản quản lý.


Trong số hơn 1.900 ha đất nói trên thì TCT đã bàn giao đất và tài sản trên đất của Công ty TNHH MTV Bò sữa TP.HCM cho Công ty TNHH Nông nghiệp Trung Thủy Sagri là 140 ha; bàn giao cho Công ty TNHH Nông nghiệp Vineco Sagri hơn 450 ha khi chưa có văn bản chấp thuận của UBND TP.HCM, chưa có quyết định thu hồi và giao đất của cơ quan có thẩm quyền.


“Việc này là không đúng quy định của Thủ tướng Chính phủ và quyết định của UBND TP.HCM (Quyết định 5039/2013) về công nhận quyền sử dụng đất cho Công ty TNHH MTV Bò sữa TP.HCM” - KTNN nhận định. Đáng nói, Quyết định 5039 của UBND TP.HCM có quy định là “không được cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất dưới bất kỳ hình thức nào”.


Ngoài ra, TCT còn ký sáu hợp đồng hợp tác thực hiện theo phương thức việc tổ chức kinh doanh trên khu đất hoàn toàn do các đối tác toàn quyền quyết định, TCT được hưởng một khoản lợi nhuận cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh trên khu đất.


“Thực chất của hợp đồng hợp tác là cho thuê lại đất, không đúng quy định của Thủ tướng, quyết định của UBND TP.HCM… Việc hợp đồng hợp tác trên các khu đất nêu trên không có văn bản chấp thuận chủ trương của UBND TP.HCM” - KTNN nêu.


Ngoài ra, hợp đồng hợp tác dự án Cụm công nghiệp Láng Le-Bàu Cò dù không có văn bản chấp thuận chủ trương của TP.HCM nhưng TCT đã thay đổi đối tác từ Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng công trình giao thông Hồng Lĩnh sang Tổng Công ty Cổ phần Phong Phú.


Đặc biệt, khi chuyển nhượng dự án khu nhà ở tại phường Phước Long B, TCT cũng có nhiều sai phạm về nghĩa vụ tài chính, huy động vốn và xác định giá chuyển nhượng khiến số thuế phải nộp bị giảm.




Trụ sở Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn trên đường Điện Biên Phủ, quận Bình Thạnh, TP.HCM. Ảnh: TL


Đề nghị xử lý theo pháp luật



KTNN đã đề nghị TCT “chấn chỉnh công tác quản lý, sử dụng đất” bằng những kiến nghị cụ thể.


Ngoài việc đề nghị rà soát diện tích đất đã giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân không đúng quy định để thu hồi, KTNN đề nghị TCT và Công ty TNHH MTV Cây trồng TP.HCM rà soát, thanh lý các hợp đồng cho thuê tài sản gắn liền với đất sai quy định.


6.300 ha nhà, đất được giao cho Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn quản lý. Trong đó, khối văn phòng tổng công ty là 38 nhà, đất với tổng diện tích hơn 300 ha, ba công ty con quản lý gần 5.800 ha. 


TCT, Công ty TNHH MTV Bò sữa TP.HCM, Công ty TNHH MTV Cây trồng TP.HCM, Công ty TNHH MTV XNK Nông Lâm Hải sản và Công ty Cổ phần BVTV Sài Gòn phối hợp với các cơ quan chức năng của TP ký hợp đồng thuê đất đối với diện tích đất chưa có hợp đồng theo quy định.


Riêng Công ty TNHH MTV XNK Nông Lâm Hải sản, KTNN đề nghị thanh lý hợp đồng hợp tác với Công ty Cổ phần Tập đoàn Trung Thủy về việc góp vốn thành lập pháp nhân mới là Công ty TNHH Trung Thủy Sagri do thuộc lĩnh vực không được phép đầu tư.


Ngoài ra, KTNN đề nghị TCT thanh lý các hợp đồng hợp tác góp vốn thành lập pháp nhân mới để hợp tác đầu tư kinh doanh trên các khu đất của TCT và Công ty TNHH MTV Cây trồng TP.HCM không đúng quy định. KTNN cũng đề nghị chủ tịch HĐTV TCT Nông nghiệp Sài Gòn chỉ đạo các đơn vị thực hiện nghiêm túc, đầy đủ kiến nghị của KTNN và báo cáo kết quả thực hiện về KTNN khu vực IV trước ngày 30-11.


KTNN còn đề nghị chủ tịch UBND TP.HCM chỉ đạo “tổ chức kiểm điểm, xác định trách nhiệm của tập thể và cá nhân có liên quan để xử lý theo quy định của pháp luật đối với các tồn tại, hạn chế của TCT, nhất là đối với việc cho thuê đất, hợp tác đầu tư trên các khu đất khi chưa có văn bản chấp thuận của UBND TP.HCM. Kiến nghị xử lý nghiêm việc giao đất cho Công ty TNHH Đầu tư sản xuất phát triển nông nghiệp Vineco, Công ty TNHH Nông nghiệp Trung Thủy Sargi khi chưa có ý kiến chấp thuận của UBND TP.HCM…


Tháng 3 vừa qua, ông Lê Tấn Hùng, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn, bị Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thành Phong ký quyết định kỷ luật bằng hình thức khiển trách. Ông Hùng đã có hành vi vi phạm về nguyên tắc kế toán. Năm 2014, ông được điều động về Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn. Trước đó, ông giữ chức chỉ huy trưởng Lực lượng Thanh niên xung phong TP.HCM. 



PLO.

Tại sao Việt Nam phải thận trọng khi lập Đặc khu Kinh tế?


Cảng Cái Rồng nằm ở phía đông thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

Ý định của chính phủ Việt Nam muốn lập ba đặc khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc gây tranh cãi trong công luận mà đỉnh điểm là các cuộc biểu tình rầm rộ trên cả nước hồi tháng 6. Tác giả Nguyễn Minh Quang, giảng viên Đại học Cần Thơ và là đồng sáng lập viên của Diễn đàn Môi trường Mekong, vừa có bài viết liên quan đến đề tài này đăng trên tờ Diplomat, phân tích về bối cảnh và tình hình chính trị trong nước để giải thích quyết tâm của Hà Nội trong việc phát triển các đặc khu kinh tế cùng những lợi-hại từ các đặc khu.

Chính phủ Việt Nam xem các đặc khu kinh tế (SEZ) là nguồn tạo ra đà tăng trưởng kinh tế quan trọng trong tương lai và dẫn đến những cải cách thể chế mang tính đột phá. Tuy nhiên, không may là sự khởi đầu của các đặc khu kinh tế ở Việt Nam không có vẻ gì là xán lạn cho lắm. Trong lúc chỉ còn một vài tuần nữa là luật đặc khu được đưa ra Quốc hội tại kỳ họp sắp tới, chúng ta cũng nên xem lại dự thảo bộ luật cũng như xem lại các đặc khu kinh tế trong nước để xác định những vấn đề lớn và những bài học lâu dài cho chính phủ trong việc xây dựng các đặc khu - một ván bài kinh tế lớn mà trước đây đã từng được thử nghiệm và bãi bỏ.

Tại sao lại làm đặc khu kinh tế?


Sau ba thập niên thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), Việt Nam đã thành lập 18 khu kinh tế ven biển với gần 325 khu công nghiệp được Nhà nước hậu thuẫn trên khắp cả nước. Những khu công nghiệp này ra đời để tung ra một loạt những ưu đãi cho các nhà đầu tư, bao gồm miễn giảm thuế (hay thậm chí là mức thuế bằng không) đối với một số mặt hàng chọn lọc, giảm hoặc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp và giảm tiền thuê đất cũng như các chi phí khác. Do phần lớn đất nông nghiệp được lấy để phục vụ công nghiệp hóa vẫn chưa được sử dụng, những khu kinh tế hiện tại vẫn còn chỗ trống cho các nhà đầu tư nước ngoài. Vậy thì tại sao chính phủ lại muốn mở thêm các đặc khu kinh tế nữa?

Phân tích kỹ về bối cảnh và tình hình chính trị trong nước sẽ giúp giải thích quyết tâm của Hà Nội trong việc phát triển các đặc khu kinh tế.

Trước tiên, chính phủ Việt Nam cảm thấy hứng thú và khích lệ trước sự phát triển thần kỳ của các đặc khu kinh tế ở Trung Quốc, Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) và Singapore. Thứ hai, có một đà mới để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước là hết sức quan trọng trong bối cảnh Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 đã dẫn đến những thay đổi toàn cầu. Thứ ba, chính quyền trung ương và các địa phương đã đưa ra những ưu đãi hấp dẫn nhất mà họ có nhưng vẫn không thu hút được nhiều nhà sản xuất cao cấp, các công nghệ mới và những kiến thức quản lý hiện đại mà họ mong muốn. Trong khi đó, các tài nguyên đất đai và khoáng sản cho những ngành nghề truyền thống đã bị khai thác quá mức.

Thêm vào đó, nhiều thỏa thuận tự do thương mại song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết, chẳng hạn như với Liên minh châu Âu và Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương Toàn diện và Tiến bộ (CPTPP), sẽ chóng có hiệu lực. Những hiệp định thương mại tự do này sẽ giảm đáng kể doanh thu thuế và tăng gánh nợ công của Việt Nam. Do đó, thiết lập những đặc khu kinh tế mới sẽ đem đến một lựa chọn thay thế rõ ràng để giúp đảm bảo ngân sách nhà nước. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ước tính rằng các đặc khu kinh tế mỗi năm sẽ đem về 10 tỷ đô la từ tiền thuế và tiền cho thuê đất.

Hơn nữa, kể từ khi Đổi Mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhìn nhận vai trò của các doanh nghiệp tư nhân như là động lực phát triển kinh tế và là điều kiện cần thiết trong giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện tại có những khiếm khuyết và không thể đáp ứng yêu cầu cao hơn của ‘chủ nghĩa xã hội tự do mới’ và hội nhập quốc tế. Tình trạng tham nhũng tràn lan và những vụ thua lỗ nghìn tỷ của các tập đoàn nhà nước nhấn mạnh nhu cầu thiết yếu phải có những sửa đổi về thể chế. Do đó, ba đặc khu kinh tế ven biển được đề xuất ở Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc vốn có những ưu thế địa chiến lược và giàu tài nguyên thiên nhiên dường như là những lựa chọn tối ưu để chính phủ có những thử nghiệm về thể chế vào lúc này.

Một số người thuộc giới tinh hoa ở Hà Nội lập luận rằng ‘các đặc khu kinh tế là nơi thu hút phượng hoàng đến đẻ trứng. Nếu Việt Nam chỉ xây những cái tổ nhỏ cho chim se sẻ thì phượng hoàng sẽ không đến.’ Nhưng các đặc khu kinh tế sẽ trông như thế nào và những nhà đầu tư kiểu nào mới được xem là ‘phương hoàng’ vẫn là những câu hỏi chưa có lời giải đáp trong dự luật. Những người ủng hộ cũng cho rằng đặc khu kinh tế cần phải được điều hành bằng ‘cơ chế chính trị đặc biệt cũng như các chính sách đặc thù’, nhưng dự luật đặc khu và bộ luật hiện hành về các khu kinh tế lại giống nhau rất nhiều ngoại trừ điều khoản cho thuê đất 99 năm, những ưu đãi về thuế hào phóng hơn và dịch vụ sòng bạc.

Mục tiêu công khai của các đặc khu được nêu trong dự luật là ưu tiên phát triển các ngành kỹ nghệ ‘xanh, công nghệ cao và dựa vào tri thức’. Tuy nhiên, trên thực tế, những ngành nghề không liên quan hay thậm chí trái ngược như sân golf, các khu nghỉ mát, du lịch đại chúng, sòng bài và lắp ráp máy móc lại có vị trí nổi bật trong danh sách các ngành nghề kinh doanh được phê chuẩn. Dự thảo luật đặc khu hiên tại, nếu không được sửa đổi, dường như ưu đãi cho các nhà đầu tư bất động sản và những kẻ đầu cơ đất đai vốn đang làm mưa làm gió tại ba địa điểm được đề xuất xây đặc khu và những kẻ chuyên trốn thuế thu nhập doanh nghiệp.

Một vấn đề còn quan trọng hơn nữa là những người soạn thảo dự luật đặc khu không đưa ra được bất kỳ ý tưởng đột phá nào khác biệt với mô hình đặc khu tương tự ở 13 quốc gia trên khắp thế giới mà các nhà hoạch định chính sách Việt Nam đã nghiên cứu học hỏi. Chính vì vậy, dự luật của Việt Nam không xây dựng được bản sắc riêng cho các đặc khu. Ưu đãi cho các nhà đầu tư có thể rất quan trọng trong việc đưa các đặc khu đi vào hoạt động, nhưng mô hình đặc khu kinh tế dựa trên ưu đãi đã chứng tỏ không còn là mô hình có hiệu quả trong nền kinh tế trí thức toàn cầu ngày nay mà những yếu tố như sự minh bạch, tính liêm chính và một môi trường kinh doanh lành mạnh dường như quan trọng hơn rất nhiều so với các ưu đãi về thuế và đất đai.

Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất ở đông nam Á muốn phát triển đặc khu. Ít nhất ba đặc khu đang được xây dựng ở Myanmar trong khi Campuchia và Lào đang hứng chịu những tác dụng phụ của các đặc khu của họ vốn đang trở thành những lãnh địa của người Trung Quốc. Do đó, Việt Nam có cơ hội cân nhắc lại và quyết định mô hình đặc khu nào sẽ phù hợp với đất nước: đặc khu kiểu Trung Quốc, đặc khu kiểu thực dân mới hay đặc khu dựa trên kinh tế trí thức thật sự? Nếu không có những ý tưởng mới, những chính sách tốt và những chiến lược thận trọng để thu hút đầu tư nước ngoài, các đặc khu của Việt Nam sẽ không có gì đặc biệt trong mắt các nhà đầu tư toàn cầu và trở thành những điểm nóng đầu tư có tính cạnh tranh cao.

Bài học gì từ các khu kinh tế hiện tại?


Những tiếng nói chỉ trích các đặc khu kinh tế thường gặp nhất là viện đến các yếu tố an ninh quốc gia và chủ quyền lãnh thổ, tăng gánh nợ công và mô hình quản trị đặc khu theo như trong dự thảo. Độ phức tạp và sự thất bại của nhiều đặc khu kinh tế toàn cầu đã chứng tỏ có những nguy cơ lớn mà chính phủ Việt Nam cần phải tính đến một cách kỹ lưỡng. Do đó, thay vì tập trung vào các triển vọng trong tương lai, cần nhìn kỹ hơn vào những di sản mà những khu kinh tế hiện tại để lại thì mới có thể thấy được những bài học quý giá trong việc định hình chính sách đối với đặc khu kinh tế.

Trước hết, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc liên tục nhấn mạnh rằng chính phủ muốn Việt Nam chủ động hội nhập vào Cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0, nhưng liệu những đặc khu kinh tế này có phải là nơi tốt nhất để khởi động cuộc cách mạng công nghiệp này ở Việt Nam? Xương sống của những đặc khu thành công ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore và UAE chính là vị trí địa chiến lược vốn quyết định dòng đầu tư nước ngoài. Còn ở Việt Nam, rất ít khu kinh tế nào trong số 325 khu thành công nhờ vào sự gần gũi về địa lý với Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Khó mà nhận ra lý do đằng sau quyết định chọn những đặc khu kinh tế mới này vốn đều cách biệt về địa lý với trình độ kinh tế xã hội và cơ sở hạ tầng vẫn còn hoàn toàn kém phá triển và không thích hợp cho các hoạt động kinh tế dựa trên kỹ thuật cao. Một số người thậm chí còn cho rằng đó là lựa chọn sai lầm do những nơi đề xuất xây đặc khu đều là những khu vực nhạy cảm về địa chính trị: Vân Đồn ở Vịnh Bắc Bộ, Bắc Văn Phong nằm hướng ra Biển Đông còn Phú Quốc nằm ở Vịnh Thái Lan ngay sát bên đặc khu kinh tế Sihanoukville của Campuchia vốn Trung Quốc có sự hiện diện áp đảo. Với chế độ cho thuê đất lâu dài như thế và các chính sách miễn thị thực như trong dự luật thì chắc chắn Trung Quốc sẽ là nước được lợi nhiều nhất nhất là khi Việt Nam đã là nơi các đầu tư Trung Quốc nhắm đến trong những năm gần đây.

Thứ hai, không có quy trình chuẩn mực hướng dẫn cách làm khi các đặc khu kinh tế không đáp ứng được mục tiêu đề ra. Hoạt động và quản lý yếu kém tại đa số các khu công nghiệp và khu kinh tế của Việt Nam hiện nay, cộng với sự suy thoái môi trường trầm trọng và lãng phí đất đai, chắc chắn là những thiếu sót lớn. Tệ hơn nữa, chúng là bằng chứng rõ ràng cho thấy sự khinh suất của chính phủ trong quá trình chuẩn bị cho các dự án đầu tư nước ngoài. Sự vô dụng của chính quyền địa phương trước thất bại của các khu kinh tế này thể hiện rõ sự thiếu vắng cơ chế giảm thiểu nguy cơ và các chính sách phản ứng vốn cần thiết cho bất kỳ ván bài kinh tế nào.

Bên cạnh đó, câu trả lời cho câu hỏi người dân Việt Nam sẽ có lợi ích như thế nào từ các đặc khu này vẫn còn mơ hồ. Tương tự, cũng không có câu trả lời rõ ràng đối với việc chính phủ sẽ giải quyết như thế nào gánh nợ công tăng cao do đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng và những khoản đầu tư ban đầu vào các đặc khu, mất trật tự xã hội, cạnh tranh không công bằng giữa các nhà đầu tư bên trong và bên ngoài các đặc khu, trốn thuế bên cạnh những vấn đề khác. Số tiền đổ vào các đặc khu có thể có ích rất nhiều trong việc hiện đại hóa các trung tâm kinh tế hiện tại, xây dựng các cơ hội mới, hợp tác mới và tương lai mới cho những người dân bị bỏ lại phía sau. Chính phủ Việt Nam rõ ràng nhìn ra những vấn đề này, nhưng giải quyết chúng ngay từ đầu là việc quan trọng để tránh những hậu họa chính tri đáng lo hơn sau này.

Vấn đề sau cùng là liệu các đặc khu có dẫn đến mối liên hệ đáng kể giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội hay không?

Việt Nam hiện đang đối mặt một nghịch lý rõ ràng: có quá nhiều khu kinh tế mọc lên nhưng có quá ít cơ hội việc làm cho những sinh viên tốt nghiệp trong các ngành khoa học, kỹ thuật, kỹ sư và toán.

Kết quả là, hàng chục ngàn sinh viên tốt nghiệp các ngành này mỗi năm nhưng lại có rất ít cơ hội việc làm. Các công việc chân tay vẫn chiếm ưu thế trong các khu kinh tế trên cả nước trong khi dòng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chủ yếu được thúc đẩy bởi lao động giá rẻ và những ưu đãi lớn. Đầu tư nước ngoài kiểu này dẫn đến nhận thức đáng lo rằng học hành thật tốt lại có cơ hội công việc tồi do tỉ lệ thất nghiệp trong số những sinh viên tốt nghiệp đang ở mức cao.

Rõ ràng là có sự trật nhịp giữa giáo dục, vốn đang tạo ra lực lượng lao động trình độ cao, với mô hình tăng trưởng kinh tế hiện tại vốn dẫn đến rất nhiều cơ hội việc làm trình độ thấp. Nói cách khác, có một sự đánh đổi giữa tăng trưởng ngắn hạn và cam kết phát triển bền vững. Rõ ràng là chính phủ Việt Nam rất cần tăng trưởng kinh tế liên tục để duy trì phát triển kinh tế-xã hội. Do đó, những đánh giá lạc quan về ‘thành tựu’ phát triển kinh tế của Việt Nam trong những thập niên qua và sự tiếp tục chiến lược đầu tư nước ngoài như thể hiện trong luật đặc khu cần phải được xem xét lại.

Ông Nguyễn Minh Quang là giảng viên Đại học Cần Thơ và là đồng sáng lập viên của Diễn đàn Môi trường Mekong. Ông hiện là nghiên cứu sinh Tiến sĩ tại Viện Nghiên cứu Xã hội Quốc tế (IISS), Đại học Erasmus Rotterdam, Hà Lan. Bài phân tích này được đăng trên tờ Diplomat.

VOA.

Xin vay thêm nước ngoài vì nhu cầu vốn vượt trần 59 ngàn tỷ đồng


Dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông ở Hà Nội, ảnh chụp hôm 20/9/2018. (Ảnh minh họa)

Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa yêu cầu vay nợ nước ngoài thêm vì nhu cầu vốn đã “vượt trần” Quốc hội cho phép là hơn 59 nghìn tỷ đồng.

Theo báo Vietnamnet, Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa trình Chính phủ phương án điều chỉnh kế hoạch đầu tư trung hạn vốn nước ngoài từ ngân sách Trung ương giai đoạn 2016-2020.

Cụ thể, tổng nhu cầu vốn vay nước ngoài dự kiến hơn 359 ngàn tỷ đồng, trong khi Quốc hội chỉ giao hạn mức là 300 ngàn tỷ đồng.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư nêu rõ, trong số 59 ngàn tỷ đồng “vượt trần”, số vốn tăng thêm tại dự án đường sắt đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm 29 ngàn tỷ, dự án đường bộ cao tốc là hơn 13,1 ngàn tỷ đồng...

Theo giải thích của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, việc tăng vốn các dự án đường bộ cao tốc tới 13,1 ngàn tỷ đồng là do chuyển đổi cơ chế, từ vay lại, sang Nhà nước đầu tư trực tiếp đối với các dự án giao thông do Tổng công ty Đầu tư đường cao tốc (VEC) và Tổng công ty Phát triển hạ tầng và Đầu tư tài chính Việt Nam (Vidifi). Trong đó riêng dự án của VEC là 12,7 nghìn tỷ đồng.

Cũng theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng số vốn cần bổ sung không ảnh hưởng tới các chỉ tiêu an toàn nợ công đã được Quốc hội phê chuẩn, có thể đáp ứng bằng điều chuyển trong khuôn khổ 2 triệu tỷ đồng cho đầu tư phát triển đã được Quốc hội thông qua.

Theo báo cáo của Bộ tài chính, tính đến tháng 9 năm 2016 nợ công của Việt Nam đạt 61% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và con số này tăng lên gần 65% vào thời điểm 2017-2018. Tốc độ tăng nợ công của Việt Nam gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng của GDP. Năm 2017, vay đảo nợ lên đến 95 ngàn tỷ đồng. Cứ 3 tháng 1 lần, Việt Nam phải trả nợ công gồm cả gốc và lãi với số tiền khoảng 25 nghìn tỷ đồng, tương đương hơn 1 tỷ đô la Mỹ.

RFA.

Bán cảng Quy Nhơn với giá 'bèo'- Kỳ 3: Làm theo chỉ đạo?


Quá trình 'hô biến' cảng Quy Nhơn từ 100% vốn Nhà nước trở thành tài sản tư nhân được 'thông qua' với hàng chục văn bản từ cấp TƯ đến địa phương.

Bài liên quan: 



Cần cẩu tại cảng Quy Nhơn ẢNH: NGUYỄN DŨNG

Cảng Quy Nhơn trực thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines, thuộc Bộ GTVT) nhưng tại sao Chủ tịch UBND tỉnh, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định lại có văn bản xin chủ trương rồi lại hối thúc Bộ GTVT sớm triển khai quá trình cổ phần hóa để bán 25%, đến bán 51% rồi bán toàn bộ vốn nhà nước tại cảng này cho tư nhân?

Ông Tô Tử Thanh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, cho rằng quá trình cổ phần hóa cảng Quy Nhơn có sai phạm của nhiều cá nhân cần được làm sáng tỏ.

Ai muốn bán hết?


Theo tìm hiểu của Thanh Niên, ông Lê Hữu Lộc, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định từ năm 2011 - 2014, có ký 2 văn bản liên quan quá trình cổ phần hóa cảng Quy Nhơn.

Đó là các văn bản số 1115/UBND-KTN ngày 4.4.2013 gửi Bộ trưởng Bộ GTVT về việc xin chủ trương cổ phần hóa cảng Quy Nhơn theo hướng Nhà nước nắm giữ 49% vốn cổ phần doanh nghiệp; văn bản số 628/UBND-TH ngày 25.2.2014 gửi Bộ trưởng Bộ GTVT đề nghị bán hết phần vốn Nhà nước tại cảng Quy Nhơn.

Theo ông Lê Hữu Lộc, đầu tháng 4.2013, ông Nguyễn Văn Thiện (lúc này là Bí thư Tỉnh ủy Bình Định) đến gặp ông Lộc trao đổi rằng cảng Quy Nhơn rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Bình Định, nhưng lại đang quá tải, trong khi TƯ rất ít đầu tư vì ngân sách khó khăn. Vì vậy, cần cổ phần hóa để cảng Quy Nhơn có nhà đầu tư chiến lược đầu tư phát triển cảng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Cũng theo ông Lộc, ông Nguyễn Văn Thiện nói việc này đã thống nhất với Bộ GTVT. Vì vậy, ông Lộc ký văn bản số 1115 xin chủ trương cổ phần hóa cảng Quy Nhơn.

Ngày 27.5.2013, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh ký công văn số 747/TTg-ĐMDN về việc chấp thuận phương án cho phép Vinalines chỉ còn nắm giữ 49% vốn điều lệ tại cảng Quy Nhơn. Công văn này căn cứ trên đề nghị của Bộ GTVT (văn bản số 2900 ngày 4.4.2013) và ý kiến Bộ Tài chính (văn bản 4991 ngày 23.4.2013).

“Tại sao văn bản số 1115 tôi ký ngày 4.4.2013 lại trùng với ngày Bộ GTVT có văn bản số 2900? Theo tôi nghĩ, văn bản 1115 chưa đến thì Bộ GTVT đã có văn bản trước đề nghị Thủ tướng Chính phủ. Vì vậy, văn bản của tỉnh không thể tác động đến văn bản của Bộ GTVT”, ông Lộc giải thích.


Ông Lộc cũng cho rằng việc ký văn bản số 628 cũng là "thực hiện theo sự chỉ đạo của Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, Bộ trưởng Bộ GTVT…".

Ngày 1.1.2014, Bộ trưởng Bộ GTVT lúc này là ông Đinh La Thăng đã có buổi làm việc với lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Định. Sau đó, Bộ GTVT gửi thông báo số 06/TB-BGTVT ngày 6.1.2014 thông báo kết luận của Bộ trưởng Đinh La Thăng về buổi làm việc với tỉnh Bình Định.
Thông báo có nêu nội dung về việc cổ phần hóa cảng Quy Nhơn: “Giao Vinalines bán số cổ phần còn lại để đạt mức Nhà nước giữ 49% vốn điều lệ theo phương án CPH được duyệt trong quý 1/2014. Sau đó, giao Vụ Quản lý doanh nghiệp dự thảo văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép thí điểm bán toàn bộ số cổ phần còn lại cho các nhà đầu tư trong nước để tạo nguồn vốn đầu tư, nâng cấp, mở rộng cảng Quy Nhơn theo quy hoạch được phê duyệt”.

Làm hàng tại cảng Quy Nhơn ẢNH: HOÀNG TRỌNG

Ông Lê Hữu Lộc khẳng định ông Nguyễn Văn Thiện sau đó đã chỉ đạo ông Lộc có văn bản gửi Bộ GTVT đề nghị sớm thực hiện ý kiến kết luận của Bộ trưởng Bộ GTVT trong văn bản nói trên. Ông Lộc đã ký văn bản số 628/UBND-TH ngày 25.2.2014.

“Tại buổi làm việc với Bộ trưởng Bộ GTVT có đầy đủ Thường trực Tỉnh ủy Bình Định. Vì vậy, việc ký văn bản đề nghị Bộ GTVT sớm thực hiện kết luận của bộ trưởng không phải là ý kiến cá nhân của tôi. Tuy nhiên, cảng Quy Nhơn trực thuộc Vinalines, nhưng với tư cách là Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, tôi đã ký 2 văn bản đề nghị nêu trên là không đúng quy định”, ông Lộc thừa nhận.

Không thông qua Ban Thường vụ, hối thúc bán cảng


Tháng 6.2015, Vinalines tiếp tục bán 26,01% tỷ lệ sở hữu cảng Quy Nhơn cho Công ty Hợp Thành và chỉ còn nắm giữ 49% vốn điều lệ.

Ngày 30.7.2014, Bộ GTVT có công văn số 9210/BGTVT-QLDN đề nghị Thủ tướng Chính phủ về việc bán hết cổ phần vốn Nhà nước tại cảng Quy Nhơn.

Ngày 8.9.2014, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh ký văn bản 1652/TTg-ĐMDN đồng ý bán hết phần vốn của Vinalines tại cảng Quy Nhơn cho các nhà đầu tư trong nước

Ngày 13.7.2015, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định Nguyễn Văn Thiện ký văn bản số 1062-CV/TU gửi Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đề nghị chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa cảng Quy Nhơn, bán toàn bộ cổ phần của Nhà nước do Vinalines đang nắm giữ (49%) cho các nhà đầu tư chiến lược trong nước.

Đến tháng 9.2015, Vinalines bán toàn bộ phần vốn còn lại cho Công ty Hợp Thành.

Ông Nguyễn Văn Thiện thừa nhận việc ký văn bản số 1062-CV/TU mà không thông qua Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định là vì bản thân “nôn nóng” muốn cảng Quy Nhơn tìm được nhà đầu tư chiến lược để đầu tư, nâng cấp hạ tầng, mở rộng cảng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

Tuy nhiên, ông Thiện cho rằng cấp địa phương thì không có quyền bán cảng Quy Nhơn, thẩm quyền bán cho ai, như thế nào... thuộc về Bộ GTVT.

Trao đổi với PV Thanh Niên trong chiều 7.9, ông Nguyễn Văn Thiện cho rằng vấn đề chính là tỉnh Bình Định mong muốn Bộ GTVT, Cục Hàng hải sớm đầu tư, nâng cấp hạ tầng cảng Quy Nhơn. Vì vậy, lãnh đạo tỉnh Bình Định đã báo cáo với Bộ GTVT sớm có phương án đầu tư cảng Quy Nhơn.

“Lúc đó, Bộ GTVT cho chủ trương cổ phần hóa nên chúng tôi chấp nhận. Nghe lãnh đạo Bộ nói cổ phần hóa để có nhà đầu tư chiến lược đầu tư hệ thống hạ tầng cảng Quy Nhơn hiện đại, thì chúng tôi rất mừng, nên sẵn sàng ủng hộ, để Bộ cổ phần hóa cảng Quy Nhơn”, ông Thiện giải thích.


Ông Tô Tử Thanh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, cho rằng ai đúng, ai sai trong quá trình cổ phần hóa Cảng Quy Nhơn cần phải được làm rõ, trong đó có cả trách nhiệm của Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định trong giai đoạn này.

Tại sao ban đầu có văn bản quy định các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa như cảng Quy Nhơn thì Nhà nước nắm giữ 75% vốn điều lệ; nhưng sau đó lại có các văn bản đồng ý để Nhà nước nắm giữ còn 49% vốn điều lệ; sau đó lại tiếp tục đồng ý bán hết cổ phần của Nhà nước?

TNO.

Bán cảng Quy Nhơn với giá 'bèo' - Kỳ 2: Định giá ... 'đúng quy trình'


Ông Tô Tử Thanh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bình Định: 'Chỉ cần bán 2 cần cẩu và thương hiệu cảng Quy Nhơn thôi cũng đủ thu trên 400 tỉ rồi... Nếu thanh tra làm rõ vấn đề này sẽ lộ ra bao nhiêu điều bất thường'.


Toàn bộ khu vực Cảng Quy Nhơn nhìn từ trên cao ẢNH: NGUYỄN DŨNG

Đúng quy trình?


Ông Nguyễn Hữu Phúc, nguyên Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn, Tổ trưởng Tổ giúp việc Ban chỉ đạo cổ phần hóa cảng Quy Nhơn, cho rằng quá trình xác định giá trị doanh nghiệp, xây dựng phương án cổ phần hóa, tổ chức đấu giá công khai… đều được Tổ giúp việc Ban chỉ đạo cổ phần hóa cảng Quy Nhơn, Ban chỉ đạo cổ phần hóa cảng Quy Nhơn và đơn vị tư vấn là Công ty TNHH kiểm toán và tư vấn thuế (ATC) làm việc công khai, minh bạch, chặt chẽ, đúng quy trình.

Theo ông Phúc, ngày 22.3.2013, Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn đã phát hành thư mời tham gia dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp gửi đến một số tổ chức tư vấn định giá được phép cung cấp dịch vụ định giá xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa năm 2013 theo quyết định của Bộ Tài chính. Kết quả có 3 đơn vị nộp hồ sơ.

Sau đó, Ban chỉ đạo cổ phần hóa Cảng Quy Nhơn và Hội đồng thanh viên Vinalines quyết định chọn ATC tham gia xác định giá trị Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn.

Ngày 17.6.2013, sau 3 lần họp thẩm tra kết quả xác định giá trị doanh nghiệp với ATC, Ban chỉ đạo cổ phần hóa cảng Quy Nhơn có tờ trình về việc phê duyệt giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn đến thời điểm ngày 31.3.2013 là hơn 513,8 tỉ đồng, trong đó phần vốn nhà nước nắm giữ là 404 tỉ đồng.

Ngày 25.6.2013, Hội đồng thành viên Vinalines có quyết định phê duyệt giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa của Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn như tờ trình này.

Kết quả xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa và phương án cổ phần hóa Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn được đăng công khai trên web công ty và trên các phương tiện đại chúng.

Đến trước ngày tổ chức đấu giá lần đầu (ngày 12.9.2013), Tổ giúp việc Ban chỉ đạo cổ phần hóa Cảng Quy Nhơn không nhận bất cứ thông tin nào từ Vinalines và các cơ quan hữu quan khác cho rằng xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa cảng Quy Nhơn là không phù hợp.

Khâu định giá tài sản "có vấn đề"


Theo ông Tô Tử Thanh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, việc xác định giá trị tài sản tại Cảng Quy Nhơn rất có vấn đề.

“Chỉ cần bán 2 cần cẩu và thương hiệu cảng Quy Nhơn thôi cũng đủ thu trên 400 tỉ rồi, đó là chưa kể bao nhiêu tài sản khác nữa. Nếu thanh tra làm rõ vấn đề này sẽ lộ ra bao nhiêu điều bất thường”, ông Tô Tử Thanh nói.

Cần cẩu tại cầu Cảng Quy Nhơn ẢNH: NGUYỄN DŨNG

Theo thông tin bán đấu giá cổ phần cảng Quy Nhơn lần đầu do Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn đã công bố thì tài sản của đơn vị này gồm: hệ thống kho bãi có diện tích mặt bằng là 306.586 m2; 6 cầu tàu với tổng chiều dài 824 m, trong đó lớn nhất là cầu tàu số 6 có thể tiếp nhận tàu tải trọng 50.000 tấn giảm tải ra vào làm hàng, trụ sở làm việc 3 tầng; 165 thiết bị, phương tiện xếp dỡ đã được trang bị đủ khả năng xếp dỡ tất cả các loại hàng rời, hàng container, kể cả hàng siêu trường, siêu trọng và hơn 300.000 m2 đất các loại ngay trong nội thành Quy Nhơn dưới hình thức thuê đất 50 năm hoặc giao đất không thu tiền sử dụng đất…Trước khi cổ phần hóa, cảng Quy Nhơn nằm trong hệ thống cảng biển để thực hiện “Chiến lược biển Việt Nam” đến năm 2020 và tiếp theo. Đây là điểm tiếp nhận hàng hóa đầu mối của các tỉnh Nam Trung bộ, Tây nguyên đến các cửa khẩu của Việt Nam với Lào, Campuchia.

Tháng 9.2014, UBND tỉnh Bình Định phê duyệt kế hoạch phát triển cảng Quy Nhơn quy mô mở rộng lên gần 120 ha. Năm 2012, sản lượng hàng hóa thông qua Cảng Quy Nhơn đạt hơn 5,7 triệu tấn, vượt công suất thiết kế hơn 262%, tổng doanh thu đạt 418 tỉ đồng, lợi nhuận 20.6 tỉ đồng, nộp ngân sách 25 tỉ đồng.

Nhà nước nắm giữ phần vốn tại QNP là hết sức cần thiết


Ngày 14.5.2014, với tư cách là Tổng giám đốc Công ty CP Cảng Quy Nhơn (QNP), ông Nguyễn Hữu Phúc đã viết và ký văn bản đề nghị Vinalines giữ lại 49% vốn điều lệ tại QNP, không bán hết cho tư nhân.

Theo ông Phúc, tại Quyết định số 2190/QĐ-TTg ngày 24.12.2009 của Thủ tướng về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, cảng Quy Nhơn thuộc nhóm cảng biển Nam Trung Bộ được xác định là cảng tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực (loại 1).

Không chỉ vậy, cảng Quy Nhơn còn là cửa ngõ ra biển của tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây, thuộc tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, đáp ứng cho phát triển kinh tế trong khu vực Nam Trung Bộ - Tây Nguyên, là đầu mối giao thương cho khu vực Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và Thái Lan.

Vai trò, vị trí, tầm quan trọng của cảng Quy Nhơn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bình Định nói riêng và các tỉnh miền Trung - Tây nguyên nói chung là rất quan trọng nên việc nhà nước nắm giữ phần vốn tại QNP là hết sức cần thiết.

TNO.

Bán cảng Quy Nhơn với giá 'bèo' - Kỳ 1: Ai bán cảng?


Ai chủ trương cổ phần hóa để bán 100% cảng Quy Nhơn cho tư nhân? Ai xác định giá trị tài sản nhà nước nắm giữ tại cảng Quy Nhơn chỉ hơn 400 tỉ đồng?

Tàu vào làm hàng tại cảng Quy Nhơn ẢNH: NGUYỄN DŨNG

Từ năm 2013 - 2015, sau 3 lần bán đấu giá cổ phần, cảng Quy Nhơn từ một đơn vị do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ đã trở thành đơn vị do Công ty CP Đầu tư và Khoáng sản Hợp Thành (ở TP.Hà Nội) nắm giữ 86,23% vốn điều lệ.

Tổng vốn nhà nước thu hồi trong việc cổ phần hóa cảng Quy Nhơn chỉ 404 tỉ đồng, được cho là quá “bèo” so với giá trị thực tế của cảng này.

Ngoài ra, việc cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại cảng Quy Nhơn có thể trái với Đề án tái cơ cấu Vinalines giai đoạn 2012 - 2015 do Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh ký ban hành ngày 4.2.2013, có quy định doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa nắm giữ 75% vốn điều lệ.

Theo Quyết định số 37/2014/QĐ-TTg ngày 18.6.2014 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước, cảng Quy Nhơn nằm trong diện Nhà nước
 (Vinalines đại diện phần vốn) phải nắm giữ 75% vốn điều lệ.

Ai bán cảng cho tư nhân?


Cảng Quy Nhơn được hình thành năm 1976 do Cục Đường biển (thuộc Bộ GTVT) quản lý. Đến năm 1993, Bộ GTVT quyết định thành lập doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Cảng Quy Nhơn. Năm 2009, cảng này trực thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) và được đổi tên là Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn.

Ngày 4.4.2013, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định có văn bản đề nghị Thủ tướng, Bộ GTVT và Vinalines cho chủ trương cổ phần hóa cảng Quy Nhơn theo hướng giảm phần vốn nhà nước xuống còn 49% để huy động vốn đầu tư mở rộng cảng Quy Nhơn. Ngày 27.5.2013, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh tiếp tục ký văn bản chấp thuận phương án cho Vinalines chỉ còn nắm giữ 49% vốn điều lệ tại cảng Quy Nhơn.

Trên cơ sở các văn bản nói trên, ngày 22.7.2013, Vinalines có Quyết định số 336/QĐ-HHVN về việc phê duyệt phương án cổ phần hóa, chuyển Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn thành Công ty CP Cảng Quy Nhơn (QNP). Theo đó, quá trình cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn được chia làm 2 giai đoạn.

Giai đoạn 1 phát hành lần đầu 40.409.950 cổ phần (CP), trong đó nhà nước chiếm 75% vốn điều lệ, người lao động và tổ chức công đoàn 5%, nhà đầu tư chiến lược 10% và phát hành ra bên ngoài 10%.

Giai đoạn 2, nhà nước giảm tỉ lệ CP nắm giữ xuống còn 49%, thực hiện trong khoảng thời gian 2014 - 2015.

Tháng 8.2013, Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn đã công bố thông tin bán đấu giá cổ phần cảng Quy Nhơn lần đầu. Theo thông tin được công bố, Hội đồng thành viên Vinalines xác định giá trị thực tế của cảng Quy Nhơn đến ngày 31.3.2013 hơn 513,8 tỉ đồng, trong đó phần vốn nhà nước nắm giữ là 404 tỉ đồng.

Ban chỉ đạo cổ phần hóa gồm: ông Nguyễn Cảnh Việt, Tổng giám đốc Vinalines làm Trưởng ban chỉ đạo cổ phần hóa Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn và ông Nguyễn Hữu Phúc, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn.

Tháng 9.2013, Công ty TNHH MTV Cảng Quy Nhơn tổ chức bán đấu giá lần thứ nhất thành công, bán ra 10% vốn điều lệ cho cổ đông tự do (tương đương 4,04 triệu CP với mức giá bình quân 12.792 đồng/CP) và 10% vốn điều lệ cho nhà đầu tư chiến lược là Công ty CP Đầu tư và Khoáng sản Hợp Thành, 5% vốn điều lệ còn lại được bán cho người lao động và tổ chức công đoàn. Như vậy, đến thời điểm này, Nhà nước còn nắm giữ 75% vốn điều lệ tại cảng Quy Nhơn (tương đương 30.307.462 CP).

Tháng 6.2015, Vinalines tiếp tục chuyển nhượng đợt 2 với 10,5 triệu CP, tương đương 26,01% tỉ lệ sở hữu QNP cho Công ty CP Đầu tư khoáng sản Hợp Thành. Đến tháng 9.2015, Vinalines lại bán toàn bộ phần vốn còn lại trong QNP (19,8 triệu CP với tỉ lệ 49%) cho Công ty Hợp Thành (đợt 3). Như vậy, sau 3 đợt được Vinalines chuyển nhượng cổ phần, Công ty CP Đầu tư khoáng sản Hợp Thành nắm giữ 86,23% vốn điều lệ tại QNP (tổng trị giá 440 tỉ đồng).

Có lợi ích nhóm trong việc cổ phần hóa cảng Quy Nhơn với giá "bèo"?


Theo ông Nguyễn Hữu Phúc, nguyên Tổng giám đốc QNP, trước khi tiến hành bán toàn bộ vốn nhà nước tại QNP cho Công ty Hợp Thành, Vinalines có yêu cầu lấy ý kiến Ban Thường vụ Đảng ủy, người đại diện phần vốn Nhà nước, ban tổng giám đốc và đại diện công đoàn QNP. Trong cuộc họp ngày 13.5.2014 gồm các thành phần nói trên, 100% đại biểu biểu quyết đề nghị nhà nước tiếp tục duy trì tỉ lệ sở hữu 49% vốn điều lệ tại QNP.

Xếp dỡ hàng hóa tại Cảng Quy Nhơn ẢNH: HOÀNG TRỌNG

Tháng 8.2016, ông Tô Tử Thanh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, có đơn kiến nghị Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm rõ vấn đề cổ phần hóa cảng Quy Nhơn.

Trong đó, ông Thanh yêu cầu làm rõ 3 nội dung chính: Ai chủ trương cổ phần hóa để bán 100% cảng Quy Nhơn cho tư nhân? Ai xác định giá trị tài sản nhà nước nắm giữ tại cảng Quy Nhơn chỉ hơn 400 tỉ đồng? Có lợi ích nhóm, móc ngoặc để biến tài sản nhà nước thành tài sản tư nhân trong quá trình cổ phần hóa cảng Quy Nhơn hay không?

Tháng 4.2017, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị thanh tra lại toàn bộ quá trình cổ phần hóa QNP. Sau đó, Thanh tra Chính phủ đã tiến hành thanh tra. Đến cuối tháng 7.2017, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục chỉ đạo khẩn trương thanh tra, kết luận rõ đúng sai trong việc cổ phần hóa QNP.

Sáng 20.1, trong buổi làm việc với Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định Nguyễn Thanh Tùng đề nghị Thủ tướng, lãnh đạo các bộ ngành làm sao để cảng Quy Nhơn trở lại là cảng của Nhà nước.

Bí thư tỉnh ủy Bình Định nói: "Tôi xin thay mặt cho cán bộ, nhân dân tỉnh Bình Định tha thiết đề nghị Thủ tướng làm sao cho cảng Quy Nhơn trở lại là cảng của tỉnh, của Nhà nước, không cổ phần hóa gì hết...".

Đón đọc: Bán cảng Quy Nhơn với giá 'bèo' - Kỳ 2: Định giá... 'đúng quy trình'

TNO.

Việt Nam mượn của Trung Quốc bao nhiêu?


Việt Nam hiện nợ Trung Quốc bao nhiêu là câu hỏi đáng hỏi, bởi vì chính Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam đã cảnh báo về các điều kiện không ưu đãi khi vay “tín dụng ưu đãi” của Trung Quốc.

Báo cáo “Cập nhật định hướng thu hút, và sử dụng vốn vay ODA và vay ưu đãi giai đoạn 2018-2020 và tầm nhìn 2021-2025” (3-8-2018) đã viết như sau (trích nguyên văn): “...tín dụng ưu đãi của Trung Quốc tương tự như các khoản tín dụng xuất khẩu, là các khoản vay có điều kiện (chỉ định thầu cho các doanh nghiệp Trung Quốc) và có điều kiện vay kém ưu đãi hơn so với vốn ODA của các nhà tài trợ khác tại Việt Nam. Lãi suất khoảng 3%/năm, phí cam kết 0.5%, phí quản lý 0,5%, thời hạn vay 15 năm, thời gian ân hạn năm năm... Tuy nhiên, một số dự án sử dụng vốn vay, nhà thầu, thiết bị Trung Quốc cũng thường xuyên chậm tiến độ, không đảm bảo chất lượng, tăng tổng mức đầu tư... ảnh hưởng hiệu quả đầu tư. Do đó, định hướng trong thời gian tới đối với việc vay nguồn tín dụng ưu đãi của Trung Quốc cần được xem xét, cân nhắc”.

Kể từ năm 2017, Việt Nam đã ra khỏi danh sách các nước nghèo được ưu tiên nhận vốn ưu đãi từ tổ chức quốc tế, do đó cần thay đổi chính sách phát triển dựa vào vốn nước ngoài. Ảnh: Internet


Lãi suất vay từ Trung Quốc như vậy là rất cao so với lãi suất 0% của Đan Mạch, 0,2% của Tây Ban Nha, 0,6-1,2% của Nhật, 1,04% của Pháp, 0,75% của Đức, 1,75% của Ấn Độ... Còn với các tổ chức quốc tế, lãi suất là 0,9% (Libor 6 tháng + 0,4-0,9%) tức là hiện nay vào khoảng 1,3-1,8%/năm và với thời hạn vay rất dài có thể tới 30 năm, thời gian ân hạn ít nhất là 5 năm.

Như vậy, câu hỏi quan trọng vẫn là cho đến nay số nợ của Việt Nam với Trung Quốc là bao nhiêu? Tại sao Việt Nam tiếp tục vay Trung Quốc để phải nhập công nghệ phế thải với điều kiện rất không ưu đãi? Và tình hình chính trị sẽ ra sao nếu công ty Việt Nam vay mượn tiền Trung Quốc phải chấp nhận chuyển giao sở hữu công trình cho ngân hàng chủ nợ của họ, một giải pháp bình thường trong thương mại, khi không trả được nợ? 

Mặc dù số nợ Trung Quốc cần theo dõi, nhưng rất tiếc không thể tìm thấy câu trả lời trong báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói đến ở trên. Bản báo cáo chỉ nói đến số tiền vay ODA từ Trung Quốc là 250 triệu đô la Mỹ, tức là chỉ khoảng 3,7% so với tổng số vay ưu đãi của Việt Nam là 6,78 tỉ đô la trong thời gian 2016-2017.

Phải nói kể từ năm 2011, Bộ Tài chính chỉ công bố tổng số nợ nước ngoài và đã chấm dứt việc công bố nợ từng nước. Bản tin nợ nước ngoài số 7 công bố năm 2011 cho thấy tổng số nợ của Chính phủ Việt Nam với Trung Quốc tính đến hết năm 2010 lên đến 552 triệu đô la Mỹ và khoản nợ do Chính phủ bảo lãnh là 1,12 tỉ đô la. Như vậy tổng số nợ Trung Quốc tính đến cuối năm 2010 mà Chính phủ trách nhiệm là 1,64 tỉ đô la. 

Theo một nghiên cứu chi tiết về các khoản nợ của các nước trong đó có Việt Nam với Trung Quốc, thì tổng số nợ của Việt Nam với Trung Quốc (bao gồm cả Chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư) có thể đã lên tới 4 tỉ đô la Mỹ, chỉ có thể tính đến hết năm 2013 (xem biểu 1 đính kèm). Số liệu trên cũng chưa thể tính trừ đi khoản nợ gốc đã trả. 


Tuy thế, nếu dựa vào số liệu nợ Trung Quốc là 4,1 tỉ đô la năm 2013, tính ra bằng 6,3% tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam (kể cả nợ của doanh nghiệp) là 63,5 tỉ đô la vào năm 2013. Dựa vào cùng tỷ lệ trên, và với số nợ nước ngoài hiện nay ước là 100 tỉ đô la Mỹ, có thể ước nợ Trung Quốc vào năm 2018 đã trên 6 tỉ đô la. Ngân hàng Thế giới tính số nợ nước ngoài của Việt Nam là 86,9 tỉ đô la vào cuối năm 2016. 

Số nợ Trung Quốc thật sự có thể lớn hơn số trên, vì từ sau năm 2010, Bộ Tài chính chỉ theo dõi và công bố nợ công tức là nợ của Chính phủ và nợ của doanh nghiệp do Nhà nước bảo lãnh, theo định nghĩa của Việt Nam. Từ 2011, bộ đã chấm dứt công bố nợ nước ngoài bao gồm cả nợ của doanh nghiệp tư nhân. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có bản hướng dẫn về nội dung quản lý nhà nước đối với vay và trả nợ của doanh nghiệp (03/VBHN-NHNN, 12-7-2017). Như thế về nguyên tắc, Ngân hàng Nhà nước nắm được thông tin nhưng không công bố. 

Việc quản lý nợ nước ngoài là quan trọng, chứ không chỉ nợ công. Mất khả năng chi trả, có thể đưa đến khủng hoảng kinh tế ngay lập tức, khi các ngân hàng nước ngoài chặn tài khoản quốc gia để đòi nợ. Đó là chưa kể đến các doanh nghiệp nước ngoài đòi con nợ chuyển sở hữu (tức là vĩnh viễn, chứ không chỉ là 99 năm).

Kể từ năm 2017, Việt Nam đã ra khỏi danh sách các nước nghèo được ưu tiên nhận vốn ưu đãi từ tổ chức quốc tế, do đó cần thay đổi chính sách phát triển dựa vào vốn nước ngoài, thay vì dựa vào mình là chính, có thể đưa Việt Nam đến bẫy nợ Trung Quốc. Do đó, để có thể theo dõi kinh tế Việt Nam nhằm có chính sách đúng đắn, Bộ Tài chính cần theo dõi sát sao và công bố nợ nước ngoài của Việt Nam, dù là nợ của Chính phủ hay của doanh nghiệp. Nếu không tự nguyện, Quốc hội nên có nghị quyết yêu cầu Bộ Tài chính thực hiện việc làm trên.

Sri Lanka đã rơi vào bẫy nợ của Trung Quốc khi không thể trả nợ tiền mượn xây dựng cảng nên đã phải nhượng cảng nước sâu Hambantoba cho Trung Quốc trong 99 năm. Mới đây, Thủ tướng mới của Malaysia, ông Mahathir, đã yêu cầu Trung Quốc xóa bỏ các công trình đầu tư chung, từ làm xe lửa cao tốc, nới biển xây khu vực công nghệ, cảng, và dự án nhà ở cho người Trung Quốc. Ông Mahathir lấy lý do không muốn phải rơi vào thế nhượng địa khi mất khả năng chi trả (theo NYT ngày 20-8-2018).

(TBKTSG)

Designed byTin không lề |