Tin không lề: Biển Đông

Bãi Tư Chính và lô 06-01: Rõ hơn về tàu Trung Quốc ‘quấy nhiễu’ Việt Nam

 

Asia Maritime Transparency InitiativeBản quyền hình ảnhASIA MARITIME TRANSPARENCY INITIATIVE
Image captionAsia Maritime Transparency Initiative mô tả tàu Trung Quốc Haijing 35111 quấy rối hai tàu Sea Meadow 29 và Crest Argus 5 phục vụ giàn khoan Hakuryu-5
Một tổ chức nghiên cứu của Mỹ vừa công bố thông tin chi tiết về hoạt động "quấy nhiễu" của Trung Quốc nhắm vào Việt Nam tại Biển Đông trong mấy tuần qua.
Thông tin do Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á (Asia Maritime Transparency Initiative), trực thuộc CSIS ở Washington DC, công bố ngày 16/7.
Thông tin từ Asia Maritime Transparency Initiative làm lộ ra có hai diễn biến trong vài tuần qua.
Một là hoạt động của tàu thăm dò dầu khí Trung Quốc Haiyang Dizhi 8, mà đã được hé lộ qua Twitter và Facebook mấy ngày vừa rồi.
Hai là sự đe dọa của một tàu hải cảnh Trung Quốc quanh lô 06-01 thuộc Dự án Nam Côn Sơn, liên doanh của Việt Nam với Nga.

'Đe dọa' dự án Nam Côn Sơn

Theo trung tâm nghiên cứu này, tàu Haijing 35111 trực thuộc Cảnh sát biển Trung Quốc, kể từ ngày 16/6, đã đi tuần ở khu vực cách bờ biển đông nam Việt Nam 190 hải lý.
Các chuyến đi của tàu Haijing 35111 xoay quanh lô 06-01, ở phía tây bắc Bãi Tư Chính (tên tiếng Anh, Vanguard Bank).
Lô dầu khí 06-01 thuộc dự án Đường ống khí Nam Côn Sơn, là dự án thành lập lần đầu năm 2000 giữa Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (nay là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam), Tập đoàn BP và Tập đoàn Statoil.
Năm 2012, TNK thay thế BP trở thành đối tác chiếm phần vốn lớn thứ 2 của hợp doanh.
Năm 2013, Rosneft của Nga thay thế TNK.
Hiện nay, dự án là hợp doanh giữa Tổng Công ty Khí Việt Nam (PV GAS), Rosneft Pipelines Vietnam và Perenco Pipelines Vietnam.
Tại lô 06-01, hiện có giàn khoan Hakuryu-5 thuộc Công ty Khoan Nhật Bản (JDC) điều hành đang tiến hành công tác khoan.
Theo thông tin trước đây của Tập đoàn dầu khí Việt Nam, lô 06.01, bao gồm mỏ khí Lan Tây và Lan Đỏ, nằm ngoài khơi phía Đông Nam tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và cách bờ khoảng 370km.
Cần biết rằng vào tháng 7/2017 và tháng 3/2018, Trung Quốc từng gây đe dọa, buộc Việt Nam sau đó ngừng hoạt động thăm dò tại các lô của Repsol, công ty Tây Ban Nha.
Nhưng Rosneft của Nga vẫn tiếp tục thăm dò ở mỏ khí Lan Đỏ và Phong Lan Đại, cũng thuộc lô 06-01.
Theo Asia Maritime Transparency Initiative, vào tháng 5/2019, Rosneft giao cho giàn khoan Hakuryu-5 đào một mỏ khác trong lô 06-01, bắt đầu làm từ ngày 18/5.
Tàu Sea Meadow 29 và tàu Crest Argus 5 - là loại tàu AHTS chuyên dụng, cung cấp dịch vụ thăm dò, khai thác dầu khí - đã đi lại giữa Vũng Tàu và lô 06-01 từ tháng Năm để phục vụ giàn khoan Hakuryu-5.
Asia Maritime Transparency Initiative cho hay tàu Trung Quốc Haijing 35111 đã có hành vi "đe dọa gần các tàu này nhằm ra oai với họ".
Ví dụ, ngày 2/7, trong khi hai tàu kéo rời khỏi giàn khoan Hakuryu-5, thì tàu hải cảnh Trung Quốc Haijing 35111 "đi vào giữa hai tàu với tốc độ cao, cách mỗi tàu khoảng 100 mét và chỉ cách giàn khoan chưa đầy nửa hải lý".
Tàu hải cảnh Trung Quốc Haijing 35111 tiếp tục hoạt động quanh giàn khoan Hakuryu-5, nhưng hoạt động khoan vẫn tiếp tục.
Diễn tiến hiện nay cũng làm bộc lộ lợi thế của các đảo nhân tạo do Trung Quốc đơn phương xây ở Trường Sa thời gian qua. Sau khi vây quanh lô 06-01 gần một tháng, tàu hải cảnh Trung Quốc Haijing 35111 đã đi về căn cứ của Trung Quốc ở Đảo Đá Chữ Thập từ 12/7 đến 14/7, có lẽ để tiếp vận, rồi lại trở lại bao vây giàn khoan Hakuryu-5.

Xuất hiện tàu thăm dò Haiyang Dizhi 8

Vào ngày 3/7, tàu thăm dò dầu khí Trung Quốc Haiyang Dizhi 8, bắt đầu thăm dò ở một khu vực gần lô 06-01.
Hoạt động của tàu này đã được những người như ông Ryan Martinson ở U.S. Naval War College và nhiều người khác công bố trên Twitter và Facebook.
Asia Maritime Transparency InitiativeBản quyền hình ảnhASIA MARITIME TRANSPARENCY INITIATIVE
Image captionTàu Việt Nam và Trung Quốc 'vờn nhau' quanh hai lô Riji 03 và Riji 27
Tàu Haiyang Dizhi 8 đang làm hoạt động thăm dò ở hai lô Riji 03 và Riji 27.
Hồi năm 2012, Trung Quốc tuyên bố mời thầu với hai lô này cùng 7 lô nữa ngoài khơi Việt Nam, nhưng không công ty nào tham gia.
Asia Maritime Transparency Initiative đánh giá hai lô Riji 03 và Riji 27 nằm trong 200 hải lý của Việt Nam.
Ít nhất 4 tàu cảnh sát biển Trung Quốc đã đi theo bảo vệ tàu Haiyang Dizhi 8.
Để phản ứng lại tàu Haiyang Dizhi 8, Việt Nam đã cử tàu cảnh sát biển đi theo sát tàu Trung Quốc.
Ít nhất hai tàu Việt Nam, KN 468 và KN 472, đã rời Vịnh Cam Ranh, đi theo phía Trung Quốc từ ngày 4/7.
Asia Maritime Transparency Initiative đánh giá tình hình hiện thời tạo ra rủi ro "đụng độ ngẫu nhiên mà có thể làm tăng căng thẳng".
Cũng đang có sức ép đòi Trung Quốc và Việt Nam ngừng im lặng mà phải thừa nhận vấn đề đang xảy ra.
Ngày 16/7, người phát ngôn Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nói:
"Trong thời gian qua, Việt Nam đã triển khai đồng bộ các biện pháp hòa bình để giải quyết vấn đề, đấu tranh yêu cầu tôn trọng vùng biển Việt Nam, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên vùng biển của mình, không có hành động làm phức tạp tình hình."
"Các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam đã và đang thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam."
BBC.

Trung Quốc chuẩn bị đưa giàn khoan dầu lớn ra Biển Đông


Hình minh họa. Hình chụp hôm 14/5/2014 từ tàu cảnh sát biển Việt Nam cho thấy tàu Trung Quốc đang ở gần giàn khoan dầu HD 981 ở Biển Đông

Trung Quốc chuẩn bị đưa giàn khoan dầu khí lớn nhất nước này có tên Dongfan 13-2 CEPB ra lưu vực Yinggehai (hay còn gọi là lòng chảo Quỳnh Hải) nằm ở phía tây bắc Biển Đông, giữa đảo Hải Nam và bờ biển phía Bắc của Việt Nam. Tân Hoa Xã loan tin này hôm 7/4.

Đây là giàn khoan do Trung Quốc đóng tại thành phố Châu Hải, tỉnh Quảng Đông và có trọng tải hơn 17 ngàn tấn, có diện tích rộng bằng một sân bóng đá.

Tân Hoa Xã cho biết giàn khoan này sẽ được đưa vào hoạt động vào tháng 6 tới đây.

Đây là lần thứ hai Trung Quốc triển khai một giàn khoan cỡ lớn như vậy ra Biển Đông. Lần đầu tiên là vào năm 2014 khi Trung Quốc triển khai giàn khoan khổng lồ Hải Dương 981 vào khu vực quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp với Việt Nam. Sự việc này đã khiến quan hệ hai nước trở nên căng thẳng trong vài tháng cho đến khi Trung Quốc quyết định rút giàn khoan về.

RFA.

Tốp 10 nước công bố 'Biển Đông' nhiều nhất không có Việt Nam


Trên cơ sở dữ liệu toàn cầu Scopus có hàng chục ngàn nghiên cứu về "Biển Đông". Tuy nhiên trong tốp 10 quốc gia công bố nhiều nhất không có Việt Nam.

Kết quả tra cứu trên Scopus với các tên gọi của Biển Đông - Chụp màn hình: TƯỜNG HÂN

Đó là khảo sát của PGS. TS Phạm Văn Phúc, tạp chí Phát triển Khoa học - Công nghệ (ĐHQG TP.HCM), công bố tại hội thảo Công bố quốc tế trong lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn tại Việt Nam, diễn ra sáng 16-1. Theo TS Phúc phần lớn học giả quốc tế khi cần tìm nguồn thông tin có phản biện trên toàn cầu sẽ tra khảo trên hai cơ sở dữ liệu uy tín là Web of Science và Scopus.

Tại hội thảo, một số thông tin về nghiên cứu Biển Đông khiến cử tọa ngạc nhiên. Thứ nhất, vấn đề "Biển Đông" được công bố đầu tiên và lưu trữ trên Scopus từ năm 1930. Mới 16 ngày đầu năm 2019 đã có 80 công bố mới về Biển Đông. 

Thứ hai, 10 quốc gia công bố nhiều nhất về "Biển Đông" gồm Trung Quốc (8.647 bài), Hoa Kỳ (2.139 bài), Đài Loan (1.070 bài), sau đó là Nhật Bản, Úc, Malaysia, Hong Kong, Anh, Đức và Singapore. Việt Nam ngoài tốp với 245 công bố về Biển Đông.

Hội thảo toàn quốc về công bố Khoa học Xã hội đạt chuẩn quốc tế - Ảnh: TƯỜNG HÂN

Trước tình hình tạp chí trong nước "trăm hoa đua nở", GS. TS Phạm Quang Minh hiệu trưởng Đại học KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội nhận định: "Nhiều tạp chí khoa học trong nước nhận đăng bài báo còn dễ dãi, gần 400 tạp chí KH-CN mà không đủ nguồn cung, tỉ lệ từ chối bài thấp, uy tín tạp chí không cao, chưa có một tạp chí đạt chuẩn quốc tế".


Về chất lượng nhà khoa học, GS Minh nhấn mạnh: "Sinh viên vẫn được đào tạo theo kiểu cũ, tiếp thu kiến thức thụ động, ít sáng tạo, ít tương tác, thiếu tinh thần phản biện, phê phán khoa học. Sinh viên kém làm sao có lực lượng thạc sĩ, tiến sĩ, nhà khoa học tốt được? Phải tạo dựng bầu không khí học thuật trong giới chuyên môn, nhà khoa học không chỉ đến phát biểu rồi ra về, ít tranh luận khiến hội nghị trở nên nhàm chán, ít tác dụng".

Hội thảo do ĐHQG TP.HCM phối hợp với Viện Hàn lâm KHXH VN (VASS) tổ chức, thu hút giới nghiên cứu toàn quốc trao đổi về nguyên nhân, giải pháp thúc đẩy số lượng bài báo KHXH công bố quốc tế và xây dựng tạp chí KHCN đạt chuẩn quốc tế. 

TTO.

45 năm Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam: Tham vọng chưa dừng lại


Giới chuyên gia quốc tế thực sự lo ngại trước các hành vi của Bắc Kinh ở quần đảo Hoàng Sa lẫn quần đảo Trường Sa cũng của Việt Nam, và xa hơn là cả khu vực Biển Đông. 

Sơ đồ 8 vị trí thuộc Hoàng Sa bị Trung Quốc quân sự hóa phi pháp
ẢNH: CSIS/ĐỒ HỌA: MINH PHƯƠNG

Sau 45 năm kể từ ngày Trung Quốc nổ súng cưỡng chiếm Hoàng Sa, giới chuyên gia quốc tế thực sự lo ngại trước các hành vi của Bắc Kinh ở quần đảo này lẫn quần đảo Trường Sa cũng của Việt Nam, và xa hơn 

Những lo lắng trên được đưa ra khi Thanh Niên phỏng vấn các chuyên gia quốc tế gồm: TS Koh Swee Lean Collin (chuyên gia quân sự của Trường Nghiên cứu quốc tế S.Rajaratnam, Singapore), ông Gregory B.Poling (Giám đốc Chương trình Sáng kiến minh bạch hàng hải - AMTI) thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS, Mỹ), PGS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế - Nhật Bản, Học giả tại Quỹ châu Á - Thái Bình Dương ở Canada) và bà Bonnie Glaser (Giám đốc Chương trình Nghiên cứu sức mạnh Trung Quốc - CSIS).

* Tình hình Biển Đông thay đổi thế nào trong 45 năm qua kể từ khi Trung Quốc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa?

- TS Collin: Bắc Kinh đã chiếm đóng Hoàng Sa để từ đảo Hải Nam vươn vòi kiểm soát về phía nam bao phủ cả khu vực Biển Đông. Cụ thể, nếu xem đảo Hải Nam là trung tâm sức mạnh quân sự thì Hoàng Sa chính là hành lang mở rộng, rồi vươn tiếp đến Trường Sa. Tất cả đã thể hiện rất rõ trong việc Bắc Kinh không ngừng phát triển hạ tầng lẫn sức mạnh quân sự tại các thực thể ở Biển Đông.

Ông Poling: Trung Quốc không chỉ thiết lập quyền kiểm soát trên thực tế đối với Hoàng Sa, mà còn thắt chặt giám sát cả vùng biển lẫn vùng trời xung quanh khu vực này suốt nhiều năm qua. Không khó để nhận ra rằng Bắc Kinh siết chặt kiểm soát, ngăn chặn tàu cá trong khu vực. Chưa dừng lại ở đó, từ Hoàng Sa, Bắc Kinh còn mở rộng kiểm soát sang quần đảo Trường Sa.

PGS Nagy: Trung Quốc đã tiến hành nhiều chiêu thức nhằm thiết lập quyền lực kiểm soát ở Biển Đông. Điều đó có thể nhận ra thông qua hạ tầng, cơ sở mà Bắc Kinh xây dựng, phát triển trên các thực thể tại vùng biển này.

Bà Glaser: Bắc Kinh đã từng bước gia tăng ảnh hưởng và kiểm soát đối với Biển Đông thông qua nhiều hoạt động, đặc biệt là khai thác hải sản cũng như năng lượng. Điều đó khiến căng thẳng ngày càng trầm trọng hơn khi nguồn hải sản dần cạn kiệt cùng với nguy cơ xung đột ngày càng lớn hơn.

* Thời gian qua, Trung Quốc không ngừng quân sự hóa các thực thể ở Hoàng Sa cũng như gây nhiều căng thẳng. Điều đó tác động thế nào đến tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương?

- TS Collin: Việc chiếm đóng của Trung Quốc ở Hoàng Sa chủ yếu nhằm kiểm soát Biển Đông cũng như hướng đến tham vọng kiểm soát tuyến hàng hải quốc tế, mở đường cho lực lượng viễn chinh tiến ra xa, thậm chí “cọ xát” để sẵn sàng đối đầu với lực lượng quốc tế. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng tự cho mình cái quyền tuyên bố vùng biển và vùng trời khu vực Biển Đông là “chủ quyền lịch sử”. Tất cả những điều đó đe dọa nghiêm trọng an ninh và ổn định của khu vực, khi dễ dẫn đến những đụng độ.

Ông Poling: Trung Quốc đang theo đuổi chính sách ép buộc, đe dọa vũ lực nhằm đẩy các nước xung quanh ra khỏi Biển Đông, dẫn đến đe dọa tính ổn định trong khu vực cũng như thách thức các nền tảng luật pháp quốc tế. Đây là một phần trong việc Bắc Kinh đang ra sức hình thành một sức mạnh vươn cả khu vực Đông Á.

PGS Nagy: Những gì Bắc Kinh đạt được trong việc quân sự hóa Hoàng Sa đã làm thay đổi cán cân sức mạnh trong khu vực. Điều đó buộc nhiều quốc gia bên ngoài khu vực cũng phải tăng cường hiện diện ở vùng biển này.

* Trong tình hình như vậy, đâu là rủi ro lớn nhất có thể xảy ra trên Biển Đông?

TS Collin: Đó chính là việc các bên liên quan đụng độ với Trung Quốc trong bối cảnh Bắc Kinh liên tục có nhiều hành vi gây căng thẳng. Nếu không có một cơ chế phối hợp kiểm soát, phòng ngừa thì dễ dẫn đến nguy cơ các cuộc đụng độ biến thành xung đột quy mô lớn. Các cơ chế như Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) chính là nền tảng để kiểm soát rủi ro.

Ông Poling: Rủi ro lớn nhất là việc leo thang bất ngờ do những cuộc đụng độ của lực lượng Trung Quốc với các bên khác. Kèm theo đó còn là rủi ro từ lực lượng “dân quân” biển mà nước này hình thành tại đây.

PGS Nagy: Nguy cơ lớn nhất là Trung Quốc và Mỹ đụng độ nhau tại vùng biển này. Và tất nhiên với những gì đang diễn ra, thì rủi ro đụng độ của các nước trong khu vực ASEAN với Trung Quốc cũng có thể leo thang khó lường.

Bà Glaser: Rất đáng lo về nguy cơ bùng nổ xung đột giữa các bên, và một Bộ quy tắc ứng xử (COC) hiệu quả có thể là cơ chế phòng ngừa phù hợp.

* Đâu là giải pháp phòng ngừa rủi ro cũng như vai trò của cộng đồng quốc tế nói chung, ASEAN nói riêng đối với tình hình Biển Đông?

- TS Collin: Cộng đồng quốc tế cần thúc đẩy lập lại trật tự dựa trên các nền tảng luật pháp quốc tế như Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982. Phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế ở The Hague (PCA) cũng là một nền tảng cần thúc đẩy để đảm bảo các bên liên quan phải tuân thủ. Tiếp theo là các nước trong khu vực cần nâng cao thực lực hàng hải. Thứ ba, các quốc gia bên ngoài khu vực cần nhận ra tầm quan trọng của Biển Đông đối với hàng hải thế giới, nên cần tăng cường hiện diện để đảm bảo sự ổn định.

Ông Poling: Chẳng thể có một giải pháp song phương hiệu quả cho tranh chấp ở Biển Đông. Áp lực mạnh mẽ nhất phải đến từ sự phối hợp của cộng đồng quốc tế, từ ASEAN đến các quốc gia bên ngoài, thậm chí là châu Âu để Bắc Kinh thay đổi hành vi, tuân thủ luật pháp quốc tế.

PGS Nagy: Thực tế thì ASEAN chưa phát huy hiệu quả vai trò, trong khi lẽ ra khối này phải gây sức ép để Bắc Kinh phải tuân thủ phán quyết (của PCA) là bác bỏ tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông.

Tiền lệ nguy hiểm cho thế giới


Cách thức mà Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa thực tế mở đầu một tiền lệ nguy hiểm cho khu vực và thế giới. Từ đó đến nay, Bắc Kinh xem việc sử dụng vũ lực là cách thức phục vụ cho tuyên bố chủ quyền, nên tiếp tục dùng quân sự để chiếm đóng thêm nhiều bãi đá khác ở Trường Sa. Những năm gần đây, Trung Quốc lại không ngừng thiết lập sức mạnh quân sự. Trong khi đó, các nước chưa thực sự gắn kết hiệu quả trước tham vọng của Bắc Kinh. Nếu cộng đồng quốc tế tiếp tục không phản ứng kịp thời thì hậu quả sẽ còn lớn hơn.

TS James Holmes (Đại học Hải chiến Mỹ)

Cần áp lực ngoại giao tổng thể


Trung Quốc không ngừng tăng cường các yêu sách, lợi ích trên Biển Đông. Thông qua các cơ sở, công trình thiết lập trên Biển Đông, Bắc Kinh dễ khiến xảy ra sự cố leo thang căng thẳng. Đây chính là vấn đề khiến Mỹ buộc phải đối đầu với Trung Quốc. Lo lắng càng lớn hơn khi Bắc Kinh bất chấp luật pháp quốc tế. Chính vì thế, lúc này rất cần một áp lực ngoại giao tổng thể của cộng đồng quốc tế.

TS Lê Thu Hường (Viện Chính sách chiến lược Úc)

TNO.

Việt Nam 'cứng rắn bất ngờ' với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông


Tư liệu - Một người lính hải quân Việt Nam đứng gác trên đảo Thuyền Chài, thuộc quần đảo Trường Sa.

Việt Nam đưa ra những yêu sách cứng rắn với Trung Quốc trong cuộc đàm phán về Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC) giữa Asean và Bắc Kinh, Reuters đưa tin.

Theo bản thảo bộ quy tắc đang được đàm phán mà phóng viên Reuters có được, phía Hà Nội muốn đặt ngoài vòng pháp luật nhiều hành động mà Bắc Kinh đang tiến hành trên khu vực Biển Đông trong suốt nhiều năm qua, trong đó bao gồm việc xây dựng các đảo nhân tạo, triển khai các loại vũ khí phong toả biển như hệ thống tên lửa.

Đảo nhân tạo của Trung Quốc xây dựng trên Đá Gạc Ma (Ảnh của CSIS)

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng thúc đẩy những điều khoản nhằm ngăn chặn Trung Quốc thiết lập Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên khu vực Biển Đông, một động thái mà Bắc Kinh đã từng đơn phương thực hiện trên khu vực biển Đông Trung Hoa vào năm 2013.

Cũng theo Reuters, Hà Nội yêu cầu các nước tham gia đàm phán minh định yêu sách của họ về chủ quyền trên biển, tuân thủ luật pháp quốc tế. Động thái này nhiều khả năng nhắm vào “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, vốn bao trùm phần lớn diện tích Biển Đông.

Trả lời phỏng vấn VOA Tiếng Việt, Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp của Viện nghiên cứu Đông Nam Á ISEAS có trụ sở tại Singapore cho rằng những đòi hỏi của Việt Nam khá bất ngờ:

“Ở một mức độ nào đó, các đòi hỏi này có thể là bất ngờ, vì nó thể hiện sự cứng rắn của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông nói chung và trước Trung Quốc nói riêng, trái với chỉ trích của một số người. Trong các yêu cầu của Việt Nam, tôi thấy ấn tượng trước đề nghị cấm thành lập ADIZ ở Biển Đông. Lâu nay các nhà làm chính sách của Việt Nam lo ngại về điều này, và người ta thường nói về việc Việt Nam nên ứng phó ra sao nếu Trung Quốc lập ADIZ ở Biển Đông, mà ít nói tới việc làm sao để ngăn chặn điều đó xảy ra ngay từ đầu. Vì vậy đưa ra đề nghị này là một bước đi khôn ngoan của Việt Nam”.

Tuy vậy, Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp cũng nhấn mạnh rằng, cần thời gian để đánh giá xem Việt Nam có tiếp tục theo đuổi những yêu sách cứng rắn này hay không.

“Cần lưu ý rằng đây mới là lập trường đàm phán ban đầu, và ở giai đoạn này tất cả các bên đều đưa ra phương án cao nhất, với mục tiêu là có thể có sự đánh đổi, hoặc điều chỉnh xuống đến mục tiêu thực sự mà các bên muốn. Vì vậy chúng ta vẫn cần theo dõi xem Việt Nam có thực sự kiên định với những lập trường nay hay không, hay sẽ có những điều chỉnh theo thời gian”.

Đàm phán hứa hẹn “gay cấn”

Về những yêu sách của phía Trung Quốc, tài liệu mà Reuters có được còn xác nhận những thông tin được đưa ra trước đây rằng Trung Quốc muốn ngăn chặn những cuộc tập trận chung giữa các quốc gia trong khu vực với các cường quốc bên ngoài, “cấm cửa” các tập đoàn dầu khí bên ngoài Trung Quốc, và Đông Nam Á, tham gia khai thác tài nguyên trong khu vực biển Đông, trừ khi có sự đồng ý của tất cả các nước tham gia vào COC.

Đây là những yêu sách mà các chuyên gia cho rằng một số thành viên của ASEAN sẽ phản đối kịch liệt.

Từ lâu, Việt Nam đã triển khai những dự án khai thác dầu khí chung với các tập đoàn dầu khí đến từ Nga, Mỹ, Ấn Độ trên khu vực Biển Đông. Tuy nhiên mới đây, trước sức ép từ phía Trung Quốc, dự án khai thác dầu khí tại mỏ Cá Rồng Đỏ giữa Việt Nam và tập đoàn Repsol của Tây Ban Nha đã phải “tạm dừng” vô thời hạn.

Trả lời câu hỏi của Reuters, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam bà Lê Thị Thu Hằng cho biết đàm phán về Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) đã đạt được một số bước tiến trong thời gian gần đây. Việt Nam vẫn đang tích cực cùng các nước khác thể hiện “tinh thần xây dựng và hợp tác”.

“Việt Nam mong muốn các nước liên quan sẽ tiếp tục các nỗ lực của mình, đóng góp tích cực cho quá trình đàm phám nhằm đạt được một Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật biển của Liên Hiệp Quốc năm 1982, góp phần duy trì hoà bình, ổn định, và an ninh trên Biển Đông nói riêng, và trong khu vực nói chung”, bà Lê Thị Thu Hằng nói.

Tuy nhiên, theo Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp, các vòng đàm phán COC tới đây sẽ rất gay cấn:

“Chắc chắn là Trung Quốc sẽ bác bỏ tất cả những đề nghị này của Việt Nam vì chúng trái với mong muốn, ý đồ của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông. Ngược lại, Việt Nam và một số nước cũng sẽ bác bỏ các yêu sách của phía Trung Quốc”.

“Tuy nhiên, nếu các bên thực sự muốn đạt được một bản COC trong tương lai, thì các nước, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc, sẽ có thể có những nhượng bộ nhất định ở những vấn đề không cốt lõi đối với lợi ích của họ”, Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp nói thêm.

Khi được hỏi về những lợi thế mà Việt Nam có thể dùng để “mặc cả” với Trung Quốc, chuyên gia về quan hệ quốc tế đang làm việc tại Singapore này cho biết:

“Tôi nghĩ là không có nhiều, trừ áp lực của Mỹ và các nước đồng minh đối với Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên, đây là vấn đề hai mặt. Có thể vì áp lực mà Trung Quốc sẽ điều chỉnh, nhượng bộ theo hướng mềm mỏng hơn. Nhưng cũng có thể vì chính các áp lực này mà Trung Quốc sẽ "xù lông", sẽ cứng rắn hơn”.

Hồi tháng 8 năm nay, sau 15 năm kể từ ngày kí Tuyên bố Ứng xử Các bên ở Biển Đông (gọi tắt là DOC) tháng 11/2002, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN – Trung Quốc tại Manila (Philippines) đã chính thức thông qua khung của một Bộ Quy tắc Ứng xử (gọi tắt là COC) nhằm điều chỉnh các hành vi, hoạt động tại Biển Đông. Bước đi này được các quan chức Trung Quốc và Đông Nam Á ca ngợi như một dấu mốc quan trọng, một bước đột phá trong việc giảm thiểu những căng thẳng gây ra bởi những tuyên bố chủ quyền chồng lấn trong khu vực.

Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã đặt ra mục tiêu kí kết Bộ quy tắc ứng xử (COC) vào năm 2021. Tuy nhiên theo nhiều chuyên gia, mục tiêu này rất khó để thực hiện.
VOA.
Designed byTin không lề |