Tin không lề: Biển Đông

SOUTH CHINA SEA - ỒN ÀO KHÔNG ĐÁNG



Thật bất ngờ khi thấy mọi người đột nhiên phê phán Hội thảo Biển Đông năm nay dùng chữ “South China Sea” trong phần dịch tên hội thảo sang tiếng Anh. Bất ngờ vì chuyện này tưởng đã cũ, chẳng có gì phân vân. Hội thảo Biển Đông cũng đã được Học viện Ngoại giao tổ chức chức lần thứ 10, chứ chẳng phải mới và được giới nghiên cứu quốc tế chú ý.

Nói cụm từ “South China Sea”, nhiều người cho rằng đây là tên Trung Quốc gọi Biển Đông. Nói thế là không chính xác. Trung Quốc gọi Biển Đông là “South Sea” và chính xác là “Nan Hai” tức Nam Hải. Còn “South China Sea” là tên quốc tế.

Cần hiểu rằng tên quốc tế này chỉ có ý nghĩa chỉ dẫn địa lý là vùng biển phía nam Trung Quốc, được đặt từ rất lâu và quốc tế gọi thế. Ý nghĩa địa lý này chưa bao giờ được đánh đồng với ý nghĩa sở hữu là “biển của Trung Quốc”. Ví dụ: Ấn Độ Dương nhưng chẳng ai nói đó là vùng biển của Ấn Độ. Hay vùng biển phía tây VN thì VN vẫn gọi là Vịnh Thái Lan nhưng có ai nói đó là biển của mỗi Thái Lan đâu.

Bản thân Trung Quốc cũng chẳng muốn gọi tên này, mỗi khi ra quốc tế, chuyên gia của họ thường cố cài cắm gọi là “South Sea” hoặc “Nan Hai”. Chính vì thế, việc Học viện Ngoại giao sử dụng dụng cụm “South China Sea” để dịch sang Biển Đông là đúng thông lệ quốc tế.

Từ vài năm trước, có một số người đòi đổi tên Biển Đông là East Sea như Philippines gọi Biển Đông là “West Philippine Sea”, nhưng cái đó là nói cho vui chứ khó có chuyện quốc tế đồng ý nếu các nước liên quan không thống nhất. Mà thực lòng rằng nếu VN gọi Biển Đông, Philippines gọi Biển Tây và ông nào cũng đòi quốc tế gọi theo cách của mình thì chắc chẳng thế giới nào chịu thấu.

Cũng cần hiểu rằng, bản thân VN tuyên bố chủ quyền là tuyên bố cụ thể về các thực thể, chứ chẳng phải bảo cả vùng biển này là của VN. Nên nếu lấy theo tên do VN đề ra cho toàn bộ vùng biển thì chắc thế giới cũng chẳng đồng ý.

Trước đây, có người đề xuất tên vùng biển này là “Biển Đông Nam Á” và đề xuất đã được nhiều chuyên gia cho là hợp lý. Nhưng đến nay, các tổ chức quốc tế vẫn chưa có động thái rõ ràng nào cho việc đổi tên.

Và khi quốc tế vẫn gọi đó là South China Sea thì các bên khi ra quốc tế cũng phải gọi tên này, kiểu như luật pháp chưa thay đổi thì người dân phải tuân thủ (cần nhắc lại là “South China Sea” không hề đồng nghĩa với việc quốc tế xem đây là vùng biển của Trung Quốc).

Tôi từng trao đổi với nhiều chuyên gia từ Philippines, chẳng tay nào dám mở miệng nói là “West Philippine Sea”, vì nói thế thì là dân Philippines tự nói với nhau. Trung Quốc dù rất muốn gọi là “Nan Hai” hay “South Sea” nhưng ra quốc tế thì vẫn phải đầy đủ “South China Sea”.

Dẫn chuyện tương tự là chính khách hay chuyên gia Nhật Bản khi nói chuyện với quốc tế vẫn gọi vùng biển Hoa Đông mà họ đang tranh chấp với Trung Quốc là “East China Sea”, nhưng vẫn đấu tranh thậm chí tạm kiểm soát quần đảo Điếu Ngư/Senkaku nằm trên vùng biển này.

Cùng về tên gọi, nếu theo đòi hỏi phải dịch như tiếng Việt thì Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) phải dịch là “Golden Sandbank”. Thế thì rất buồn cười, vì thế giới đã có sẵn tên quốc tế là Paracel. Không phải cái gì khi dịch cũng “word by word”, tiếng Việt sao là phải chăm chăm từng từ dịch ra tiếng Anh.

Bên cạnh đó, vì mục đích xa hơi là hội thảo nhằm thu hút rộng rãi chuyên gia quốc tế, bao hàm cả chuyên gia Trung Quốc. Vì nếu VN tự tổ chức hội thảo, tự nói với nhau thì ích lợi gì, phải có thế giới tham gia, phải có Trung Quốc để họ nghe mà hiểu quan điểm của VN và thế giới. Muốn thế, nếu chúng ta gọi là East Sea khi các tổ chức quốc tế vẫn gọi là “South China Sea” thì làm sao thu hút đông đảo sự quan tâm của thế giới.

Chốt lại: chẳng có gì đáng ồn ào và chẳng có gì gọi là “thua ngay trên sân nhà” trong việc dịch “Biển Đông” sang tiếng Anh thành “South China Sea”.

(Tri M. Ngo)

Giải pháp nào cho tranh chấp Biển Đông?


Tiền đồn do Trung Quốc xây dung ở quần đảo Trường Sa

Đàm phán giữa các bên liên quan theo luật pháp quốc tế hay tham khảo kinh nghiệm nhờ trọng tài phán xử từ các tranh chấp chủ quyền khác trên thế giới là những giải pháp giúp giải quyết tranh chấp trên Biển Đông một cách hòa bình phù hợp với nguyện vọng của tất cả các bên, theo các ý kiến đưa ra tại một hội thảo mới đây tại Mỹ.

Các học giả quốc tế đã đưa ra những đề xuất và so sánh vừa kể tại phiên thảo luận về giải quyết tranh chấp tại Hội thảo thường niên về Biển Đông lần thứ 8 do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) tổ chức vào cuối tháng Bảy vừa qua ở Washington.

‘Kiên trì đàm phán’


Ít nhất đó cũng là lập trường của Việt Nam, theo như trình bày của ông Đỗ Thanh Hải đến từ Học viện Ngoại giao Việt Nam.

Theo ông Hải, để có giải pháp chung cuộc đối với tranh chấp trên Biển Đông thì Hà Nội sẽ theo đuổi con đường ‘kiên trì đàm phán’ với các bên có tranh chấp như Trung Quốc, Philippines và Malaysia.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, Hà Nội không gạt sang một bên biện pháp pháp lý giống như Manila đã từng kiện Bắc Kinh ra Tòa trọng tài thường trực (PCA) hồi năm 2014. Ông Hải cho biết Hà Nội ủng hộ vụ kiện của Manila và bảo lưu quyền của mình sử dụng biện pháp pháp lý tương tự.

Về khả năng đàm phán, ông Hải chỉ ra kinh nghiệm của Hà Nội trong việc đàm phán các vấn đề nhạy cảm và khó khăn trên các hồ sơ phân định biên giới trên bộ với Lào, Campuchia và trên biển với Thái Lan, Indonesia. Riêng với Trung Quốc, Việt Nam đã hoàn thành việc phân giới cắm mốc biên giới trên bộ và phân định Vịnh Bắc Bộ. Tất cả các hồ sơ tranh chấp này của Việt Nam đều được giải quyết trong hòa bình.

Do đó, ông Hải cho rằng Hà Nội ‘là nước đi đầu trong khu vực’ trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Theo đó, Hà Nội theo đuổi giải pháp ‘công bằng, lâu dài và chấp nhận được’ và xem đó là con đường để đảm bảo hòa bình và an ninh trong khu vực.

Trong khi chờ đợi có được giải pháp lâu dài đó, Việt Nam cũng sẵn sàng chấp nhận những giải pháp tạm thời nhưng ‘thỏa đáng’, ông Hải nói và nhấn mạnh nguyên tắc ‘thỏa đáng’.

Giải pháp tạm thời này bao gồm hợp tác trên những vấn đề không nhạy cảm như tìm kiếm, cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và bảo vệ môi trường và hợp tác cùng khai thác.

Riêng trên vấn đề hợp tác cùng khai thác (dầu khí) mà Bắc Kinh lâu nay vẫn vận động các nước thực hiện theo nguyên tắc của họ là ‘gạt bỏ tranh chấp, hợp tác cùng khai thác, chủ quyền thuộc về chúng ta (Trung Quốc)’, ông Hải nhấn mạnh rằng Việt Nam không hợp tác cùng khai thác ở những vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam mà chỉ ở những vùng biển có chủ quyền chồng lấn. Ngoài ra, Hà Nội chỉ hợp tác cùng khai thác sau khi dùng luật pháp quốc tế xác định rõ ràng vùng biển nào có chủ quyền chồng lấn.

Nguyên tắc cơ bản của Việt Nam khi theo đuổi con đường đàm phán cũng như giải pháp tạm thời, theo ông Hải, là bám theo luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Quốc tế về Luật Biển UNCLOS 1982, còn những yếu tố khác chỉ mang tính bổ sung và chỉ có giá trị tham vấn. Điều này trái với lập trường của Trung Quốc là ‘chủ quyền lịch sử’ đối với Biển Đông vốn không có căn cứ trên luật pháp quốc tế.

Ngoài ra, ông Hải cho rằng để đàm phán thành công thì các bên cần phải ‘kiên trì’, ‘kiềm chế’, ‘có thiện chí’ và ‘có lòng tin’. Các bên cần phải tôn trọng quyền lợi chính đáng của nhau cũng như kiểm soát tình cảm dân tộc cực đoan, kích động hận thù, bài ngoại của người dân trong nước vốn gây cản trở cho quá trình đàm phán.

“Chúng ta đã thấy tinh thần dân tộc (cực đoan) tai hại như thế nào đối với mỗi nước trong quá trình tìm cách giải quyết tranh chấp,” ông Hải nói.

Tuy nhiên, ông Hải cũng chỉ ra những trở ngại đối với việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông một cách hòa bình: thiếu trách nhiệm và thiếu thiện chí, mưu cầu bá quyền thông qua việc quân sự hóa để tạo ‘sự đã rồi’, khăng khăng đòi hợp tác cùng khai thác không đúng nơi, không đúng trình tự (trước khi có phân định biên giới rõ ràng) và tuyên bố chủ quyền phi pháp (đường chín đoạn và đòi hỏi vùng biển tối đa cho những thực thể không đủ điều kiện theo luật quốc tế).

“Giải pháp cho tranh chấp trên Biển Đông là có thể,” ông Hải nói. “Chúng ta cần phải nghiêm túc xem xét ngay bây giờ và làm càng sớm càng tốt.”

Để đàm phán thành công, ông Hải nói Việt Nam ‘ủng hộ mạnh mẽ’ vai trò của khối ASEAN trong việc tạo ra môi trường thuận lợi cho đàm phán.

“Cần nhượng bộ”


Trao đổi với VOA bên lề hội thảo, ông Bill Hayton, cựu nhà báo của BBC và hiện đang là học giả của Viện Chatham House ở London, Anh quốc, cũng cho rằng đàm phán để giải quyết tranh chấp là con đường ‘không phải là không khả dĩ’.

Để đàm phán thành công, ông Hayton cho rằng các bên tranh chấp cần phải có nhượng bộ về chủ quyền. Đơn cử như trường hợp của Việt Nam, ông Hayton nói rằng nước này ‘không thể cứ khăng khăng cho mình là nước có chủ quyền hợp pháp với các bãi đá và bãi cạn trên Biển Đông’.

Việt Nam và Philippines hiện có tranh chấp chủ quyền với một số thực thể thuộc quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, Hà Nội không có giọng điệu gay gắt với Manila về các tranh chấp này và trên thực tế hai nước đã có những hành động phối hợp với nhau để cùng đối phó với Trung Quốc.

Ông Hayton cho rằng Việt Nam cần phải thỏa thuận với Philippines rằng họ có công nhận chủ quyền của nhau đối với các hòn đảo mà mỗi bên hiện đang nắm giữ hay không. Một khi đã nhượng bộ nhau về đảo thì từ đó các nước sẽ căn cứ vào UNCLOS để phân định sở hữu đối với vùng biển liên quan và các tài nguyên trong đó. Sau đó, hai nước sẽ tiến tới có hành động tương tự với Malaysia và Brunei.

Một khi các nước đông nam Á đã đưa ra lập trường nhượng bộ lẫn nhau, họ có thể thống nhất lập trường trước Trung Quốc và kêu gọi Trung Quốc cùng có sự nhượng bộ như vậy. Tuy nhiên ông thừa nhận rằng ‘không dễ để Bắc Kinh đưa ra nhượng bộ’.

“Tuy nhiên Bắc Kinh không có đủ bằng chứng lịch sử để chứng minh rằng họ đã từng chiếm hữu những thực thể khác ngoài những gì mà họ hiện đang chiếm hữu,” ông Hayton nói và cho biết sự yếu thế về mặt pháp lý này sẽ khiến Bắc Kinh cần nhượng bộ.

Trong phần trình bày của mình tại hội thảo, ông Hayton cũng nêu ra một nguyên tắc giải quyết tranh chấp chủ quyền theo luật pháp quốc tế mà tiếng Latin gọi là ‘Uti possidetis’, tức là anh có quyền sở hữu bất cứ những gì mà hiện anh đang chiếm hữu và phải giữ nguyên hiện trạng không chiếm đoạt thêm.

Cũng trong phần trình bày này, ông Hayton mỉa mai điều mà Bắc Kinh cho là ‘chủ quyền không thể tranh cãi’ của họ đối với quần đảo Trường Sa. Ông đã đưa ra một bằng chứng là một tài liệu chính thức do Bộ Thông tin của Trung Hoa Dân quốc (tức Đài Loan sau này, vốn trước năm 1949 vẫn còn kiểm soát Trung Hoa đại lục) xuất bản vào năm 1943. Tài liệu này cho thấy tuyên bố chủ quyền của họ trên Biển Đông xa nhất chỉ tới quần đảo Hoàng Sa mà thôi. Tới lần xuất bản thứ hai vào năm 1947 thì Chính phủ Trung Hoa Dân quốc mới bổ sung thêm vào quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa).

“Do đó cái gọi là chủ quyền không thể chối cãi có từ thời xa xưa không thể nhớ nổi đối với Quần đảo Trường Sa là nói bậy,” ông Hayton nói. “Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với Trường Sa còn ít tuổi hơn tuổi của bố mẹ tôi nữa.”

Về phần mình, ông Trương Phong, một học giả Trung Quốc hiện đang giảng dạy tại Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Quốc gia Australia, cũng bày tỏ lòng tin vào biện pháp hòa đàm.

Trao đổi với VOA bên lề hội thảo, ông Trương cho biết Bắc Kinh đã tỏ thái độ vui lòng đàm phán với các bên tranh chấp ‘một cách song phương’.

“Vấn đề hiện giờ là thời cơ (để đàm phán),” ông Trương nói, “Thời cơ hiện nay là của COC (Bộ Quy tắc ứng xử).” Tại một hội nghị ngoại trưởng mới đây của Asean với Trung Quốc tại Singapore, các bên tuyên bố đã xác định được những nguyên tắc cơ bản của COC.

Trả lời câu hỏi của VOA rằng liệu Trung Quốc có xem Biển Đông là ‘lợi ích cốt lõi’ của họ không – tức là họ không thể có bất kỳ nhượng bộ nào và sẵn sàng dùng mọi biện pháp, kể cả quân sự, để bảo vệ lợi ích đó – ông Trương cho rằng việc xác định lợi ích cốt lõi ở Biển Đông ‘sẽ không có ích gì’ đối với giải quyết tranh chấp cũng như hòa bình và an ninh khu vực và các học giả Trung Quốc đến nay vẫn còn tranh cãi về vấn đề này.

“Trung Quốc đến nay vẫn không tuyên bố công khai liệu Biển Đông có phải hay không phải là lợi ích cốt lõi,” ông Trương cho biết và nói thêm Bắc Kinh vẫn duy trì ‘sự mơ hồ’ này và ‘khó mà dự đoán liệu họ sẽ thay đổi quan niệm như thế nào trong tương lai’.

Đáp câu hỏi của VOA rằng liệu Bắc Kinh có sử dụng vũ lực để thu hồi những lãnh thổ mà họ cho là của họ để hoàn thành mục tiêu thống nhất đất nước trước thời điểm năm 2049, thời điểm mà Chủ tịch Tập Cận Bình đã xác định là cột mốc để hướng đến xây dựng một nước Trung Quốc hiện đại và hùng cường, ông Trương Phong nói rằng ông ‘hy vọng là không’ vì lợi ích của hòa bình và ổn định trong khu vực. Tuy nhiên, ông cũng nói rằng thời điểm đó vẫn còn xa nên khó mà dự đoán.

Trong phần trình bày của mình, ông cũng nêu ra một dấu hiệu cho thấy Bắc Kinh có thể sẽ chịu đàm phán giải quyết tranh chấp ở quần đảo Trường Sa. Đó là, đến nay Bắc Kinh vẫn chưa tuyên bố đường cơ sở của các thực thể mà họ chiếm đóng ở Trường Sa để từ đó xác định chủ quyền với các vùng nước có liên quan. Trong khi đó, ở Hoàng Sa, từ lâu Bắc Kinh đã vẽ đường cơ sở và tuyên bố họ không chấp nhận đàm phán về Hoàng Sa vì ‘không có gì tranh chấp’ ở quần đảo này.

Phán quyết của trọng tài


Cũng tại hội thảo, một số học giả đã đề cập đến các vụ tranh chấp chủ quyền lãnh hải và tài nguyên ở những nơi khác trên thế giới vốn được giải quyết nhờ vào phán quyết của Tòa án Quốc tế cũng như sự hỗ trợ của cơ quan trọng tài để rút ra bài học kinh nghiệm cho Biển Đông.

Giáo sư Bec Strating thuộc Đại học La Trobe, Úc, nêu ra tranh chấp chủ quyền lãnh hải trên Biển Timor cũng như tranh chấp dầu khí thuộc mỏ Greater Sunrise thuộc vùng biển này giữa Úc và Timor Leste.

Cũng như Trung Quốc trên Biển Đông, Canberra luôn từ chối tham gia vào bất cứ vụ kiện nào mà Dili kiện ra Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) về tranh chấp trên Biển Timor, bà Strating cho biết. Tuy nhiên, Úc không thể bác bỏ việc hòa giải bắt buộc theo cơ chế giải quyết tranh chấp theo Phụ lục 5 của UNCLOS.

Theo yêu cầu của Timor Leste thì vào tháng Tư năm 2016 một ủy ban hòa giải của Liên Hiệp Quốc gồm năm chuyên gia được thành lập để xem xét tranh chấp và đưa ra những khuyến nghị (không mang tính ràng buộc đối với các bên) trong khoảng thời gian một năm.

Ngay từ đầu, Úc đã thách thức thẩm quyền của ủy ban hòa giải này nhưng sau khi bị bác bỏ, Canberra đã phải cùng ngồi vào bàn với Timor Leste. Sau một số hành động xây dựng lòng tin thì đến tháng 7 năm 2017 hai nước đã đạt được đột phá. Theo đó, Timor Leste được chia đến từ 70% cho đến 80% thu nhập từ mỏ dầu Greater Sunrise vốn ước tính có trị giá lên đến 40 tỷ đô la. Điều này được cho là chiến thắng đối với Timor Leste.

Theo bà Strating, sở dĩ Timor Leste có được thắng lợi này bất chấp họ là một nước nhỏ hơn Úc rất nhiều là vì nước Úc lúc đó cần thấy họ phải thể hiện quan điểm ủng hộ mạnh mẽ trật tự quốc tế dựa trên luật pháp trong bối cảnh có tranh chấp trên Biển Đông.

Tuy nhiên, bà Strating cũng tỏ vẻ nghi ngờ liệu cơ chế tương tự sẽ giúp giải quyết tranh chấp trên Biển Đông vì tranh chấp trên Biển Đông phức tạp hơn nhiều với sự tham gia của nhiều nước, không chỉ về dầu khí mà còn về chủ quyền đối với các đảo, bãi đá bên cạnh việc quân sự hóa của Trung Quốc. Một vấn đề thêm nữa là Bắc Kinh không có động lực ủng hộ trật tự dựa trên luật pháp như Canberra.

Thiếu tướng Hải quân Lalit Kapur, chuyên gia nghiên cứu cao cấp của Delhi Policy Group, đem đến kinh nghiệm giải quyết tranh chấp giữa Ấn Độ và Bangladesh vốn dựa vào phán quyết của Tòa án quốc tế. Hai nước đã có tranh chấp về đường phân giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế EEZ và thềm lục địa trên Vịnh Bengal.

Phán quyết của Tòa án PCA, mà cả hai nước đều chấp nhận và thực thi, đã giúp dọn đường cho hai nước tăng cường hợp tác kinh tế và đạt được lợi ích trên nhiều lĩnh vực, ông Kapur cho biết.

Tuy nhiên, ông Kapur cho rằng bối cảnh trên Biển Đông khó khăn hơn vì sự thiếu lòng tin nghiêm trọng giữa các bên trong khi Trung Quốc không chấp nhận các kênh đàm phán đa phương cũng như cơ chế pháp lý để giải quyết tranh chấp.

Ngoài ra, hai nước Ấn Độ và Bangladesh không dùng con bài dân tộc chủ nghĩa để kích động tình cảm dân tộc cực đoan trong nước trên vấn đề chủ quyền lãnh thổ vốn rất nhạy cảm. Hơn nữa, Ấn Độ cũng không dùng lợi thế nước lớn trước Bangladesh để đòi hỏi về chủ quyền lãnh thổ.

Ông Trần Dĩ Tín, chuyên gia nghiên cứu đến từ Viện Nghiêu Mỹ-Đài Loan, nói rằng bất kỳ các cuộc đàm phán nào về Biển Đông cũng không thể loại trừ vai trò của Đài Loan và Đài Bắc sẽ không công nhận bất kỳ giải pháp đàm phán nào mà không có sự tham gia của họ.

Ông Trần nhắc lại lập trường của Đài Loan là là toàn bộ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng vùng biển xung quanh là ‘thuộc chủ quyền của Cộng hòa Trung Hoa (tức Đài Loan)’.

VOA.

Trung Quốc ngầm cảnh báo Việt Nam?


Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị gặp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hà Nội, ngày 2/4/2018.

Nhà ngoại giao hàng đầu Trung Quốc được cho là đã "bày tỏ hy vọng" với quan chức Việt Nam rằng Hà Nội sẽ “xử sự khôn ngoan hơn” khi giải quyết các vấn đề liên quan tới lãnh hải.

Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Vương Nghị mới gặp Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh bên lề một sự kiện ngoại giao liên quan tới Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ở Singapore.

Theo quan sát của phóng viên VOA tiếng Việt, trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc sau đó đã đăng tuyên bố, trong đó ông Vương được trích lời đã nói với ông Minh rằng hai người “đã gặp nhau trước đó không lâu ở Hà Nội” (hồi tháng Tư), và “đã trao đổi sâu về việc thực thi các kết quả quan trọng đạt được trong chuyến thăm của Tổng bí thư và Chủ tịch Tập Cận Bình tới Việt Nam”.

“Chúng tôi sẵn sàng cùng với phía Việt Nam nỗ lực liên tục làm sâu sắc mối quan hệ song phương trong nhiều lĩnh vực và đồng thời có các nỗ lực tích cực để thúc đẩy ổn định và hòa bình khu vực”, tuyên bố về cuộc gặp hôm 3/8 giữa hai nhà ngoại giao Việt Nam và Trung Quốc có đoạn.

“Các lãnh đạo hàng đầu của hai bên đã đạt được sự đồng thuận chính trị quan trọng nhằm giải quyết hợp lý các vấn đề hàng hải mà cần phải được Trung Quốc và Việt Nam thực thi một cách nghiêm túc”.

Quan chức ngoại giao hàng đầu của nước láng giềng khổng lồ phương bắc còn được trích lời “bày tỏ hy vọng rằng phía Việt Nam sẽ xử lý cũng như kiểm soát các vấn đề liên quan tới biển bằng cách xử sự khôn ngoan hơn nhằm duy trì một cách hiệu quả lòng tin và hợp tác giữa hai nước”.

Hiện chưa rõ “cách xử sự khôn ngoan hơn” mà Trung Quốc muốn chứng kiến từ phía Việt Nam cụ thể là gì.

Hồi cuối tháng Năm, trong một tuyên bố được coi thuộc loại mạnh mẽ nhất trong nhiều năm nay, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã “yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay” việc cho máy bay ném bom diễn tập trên quần đảo Hoàng Sa, đồng thời “không được tiến hành quân sự hóa; nghiêm túc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa; tuân thủ nghiêm túc Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc, Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) giữa ASEAN và Trung Quốc tạo bầu không khí thuận lợi cho việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực”.

Trong cuộc gặp với ông Vương hôm 3/8, theo thông báo trên trang web của Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Minh đã “đánh giá cao những tiến triển trong quan hệ hai nước thời gian qua; đề nghị Trung Quốc tích cực áp dụng các biện pháp hiệu quả duy trì tăng trưởng thương mại đi đôi với giảm nhập siêu của Việt Nam”.

Liên quan tới vấn đề Biển Đông, ông Minh “nêu rõ cần kiên trì giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), thực hiện nghiêm túc nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước; kiểm soát tốt bất đồng, không có hành động làm phức tạp tình hình, mở rộng tranh chấp; thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC, sớm đạt được COC [Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông] hiệu quả, thực chất và ràng buộc”.

Hôm 4/8, cũng tại Singapore, ông Vương lên tiếng bảo vệ quyết định quân sự hóa Biển Đông của Bắc Kinh, gọi đó là hành động “tự vệ” trước áp lực từ Hoa Kỳ và các nước khác.

Đề cập tới các hàng không mẫu hạm, máy bay ném bom chiến lược và các loại vũ khí tối tân khác, nhà ngoại giao giao hàng đầu Trung Quốc nói rằng các nước trong khu vực, trong đó có Trung Quốc, phải “thiết lập các cơ sở phòng thủ” để “tự vệ” khi “đối mặt với áp lực và mối đe dọa quân sự đang ngày càng gia tăng như vậy”.

Cũng tại Singapore, lần này, theo các nhà quan sát, Trung Quốc đã có bước đi quyết định nhằm thu phục lòng tin của các nước Đông Nam Á bằng cách đồng ý về dự thảo đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông, và đề nghị cùng các nước thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á lần đầu tiên diễn tập quân sự chung, các nhà phân tích nhận định.

Bộ trưởng Vương Nghị được Tân Hoa Xã dẫn lời nói rằng bước đi trên “chứng tỏ rằng Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN có khả năng duy trì hòa bình và ổn định”.

VOA.

Tàu cá Quảng Ngãi bị tàu lạ đâm chìm trên biển


Một tàu cá của Quảng Ngãi với 7 thuyền viên bất ngờ bị tàu lạ đâm chìm ở khu vực quần đảo Hoàng Sa. 


Khoảng 10h sáng 7/8, Đài thông tin Duyên hải Đà Nẵng nhận được thông báo từ tàu QNg 90693 TS. Thuyền viên trên tàu này cho hay họ nhận được tin của tàu cá số hiệu QNg 90546 TS cách đó 11 hải lý bị tàu lạ đâm chìm trong khu vực quần đảo Hoàng Sa, trên tàu có 7 thuyền viên. 

Sau khi nhận được tin, tàu QNg 90693 TS lên đường đến hỗ trợ tàu bị nạn. Hiện toàn bộ 7 thuyền viên đã được cứu vớt an toàn, sức khỏe bình thường; tàu QNg 90546 TS chìm xuống biển.

Sáng cùng ngày, Đài thông tin Duyên hải Vũng Tàu nhận được thông tin tàu BV 5631 TS đang bị chìm nửa tàu, vị trí cách Vũng Tàu khoảng 35 hải lý về phía Đông Nam. Nguyên nhân do tàu bị sóng đánh khiến nước tràn vào. Trên tàu đang có 22 thuyền viên. 

Đài duyên hải đã chuyển thông tin đến tàu Thanh Toàn đang đánh bắt gần đó để kịp thời ứng cứu. Hiện tàu SAR của Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt Nam đã đến lai dắt tàu, đưa ngư dân về cảng. 

Trưa 7/8, Đài thông tin Duyên hải Phan Thiết tiếp nhận được yêu cầu trợ giúp khẩn cấp từ tàu BĐ 96475 TS. Tàu này đang hoạt động tại vị trí cách Quy Nhơn khoảng 170 hải lý về phía Đông thì bị nước tràn vào gây chìm. Trên tàu có 2 thuyền viên. Đài duyên hải đã thông báo đến các tàu cá hoạt động gần đó ứng cứu.

VNE.

Một Đề Án Chi Tiết cho Hợp Tác Sản Xuất Dầu Khí ở Biển Đông


Đây là sản phẩm thứ hai của Nhóm công tác chuyên gia CSIS về Biển Đông (CSIS Expert Working Group on the South China Sea), nhằm tìm kiếm một mô hình khả thi đối với các bên yêu sách để quản lý tranh chấp hàng hải. Nhóm gồm những chuyên gia trong các lãnh vực quan hệ quốc tế, luật biển và môi trường biển đến từ nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Singapore, Úc, và các quốc gia có yêu sách trực tiếp ở Biển Đông là Trung Quốc, Philippines, Đài Loan và Việt Nam. Dự án Đại Sự Ký Biển Đông thực hiện và xin giới thiệu bản dịch tiếng Việt để hỗ trợ cho việc tiếp cận và thảo luận về đề án này một cách dễ dàng hơn trong cộng đồng quan tâm đến vấn đề Biển Đông. 

Sự cạnh tranh cho các nguồn tài nguyên dầu và khí đã nhiều lần gây ra bế tắc giữa các bên yêu sách ở Biển Đông trong những năm gần đây, đặc biệt là giữa Trung Quốc, Philippines và Việt Nam. Nỗ lực nghiêm túc cuối cùng để hợp tác trên mặt trận này là việc thực hiện Thỏa thuận ba bên về khảo sát địa chấn biển chung từ năm 2005 đến năm 2008, được phép chấm dứt hiệu lực trong bối cảnh tranh cãi chính trị và các câu hỏi về tính hợp hiến của nó ở Philippines. Kể từ cuối năm 2016, chính phủ Philippines và Trung Quốc đã thảo luận khai thác chung nguồn hydrocarbon ở Bãi Cỏ Rong, nhưng đã có rất ít tiến bộ rõ ràng mặc dù tuyên bố chính thức lạc quan. Các chuyên gia độc lập và các luật gia nổi tiếng ở Philippines đã nói rằng, bất kỳ kế hoạch nào như thế đều có khả năng vi hiến dựa trên các điều khoản nghiêm ngặt của hiến chương quốc gia đòi hỏi chính phủ phải bảo vệ các quyền của quốc gia đối với các nguồn tài nguyên ngoài khơi.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ ước tính Biển Đông có trữ lượng 500 nghìn tỷ mét khối khí đốt tự nhiên và 11 tỷ thùng dầu đã được chứng minh và có thể có, hầu hết nằm dọc theo biên giới của Biển Đông chứ không phải dưới các đảo nhỏ và rạn san hô đang tranh chấp. Khảo sát địa chất Mỹ năm 2012 ước tính có thể có thêm 4.5 nghìn tỷ mét khối khí tự nhiên và 12 tỷ thùng dầu chưa được phát hiện ở Biển Đông. Ước tính của Bắc Kinh đối với tài nguyên hydrocarbon dưới biển cao hơn đáng kể, nhưng vẫn còn khiêm tốn so với nhu cầu tổng thể của Trung Quốc – tiêu thụ dầu của nước này vào năm 2018 dự kiến ​​sẽ đạt 12,8 triệu thùng mỗi ngày.
Tuy nhiên, đối với Việt Nam và Philippines, việc tiếp cận các nguồn năng lượng ở Biển Đông là rất quan trọng. Lô 06.1, một phần của dự án Nam Côn Sơn gần Bãi Tư Chính, cung cấp khoảng 10% tổng nhu cầu năng lượng của Việt Nam. Philippines tạo ra khoảng một phần ba lượng điện cho đảo chính Luzon của mình từ một nguồn duy nhất, mỏ khí Malampaya, dự kiến ​​sẽ ngừng sản xuất vào năm 2024. Trừ khi có nguồn thay thế – và Bãi Cỏ Rong là lựa chọn tốt duy nhất hiện nay – Philippines sẽ cần phải nhập một lượng đáng kể khí thiên nhiên với chi phí cao hơn, nhanh chóng kết hợp các nguồn năng lượng khác vào nguồn cung cấp điện của mình, hoặc phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng.
Hợp tác khai thác những tài nguyên dầu khí đang bị tranh chấp là khó khăn hơn, cả về mặt pháp lý và chính trị, so với thủy sản hoặc quản lý môi trường. Không giống như cá, không có điều khoản trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) yêu cầu các nước hợp tác để quản lý tài nguyên dầu khí trong một biển nửa kín như Biển Đông. Các điều 74 và 83 của UNCLOS nói rằng nếu không có sự phân định ranh giới hàng hải cuối cùng, các quốc gia nên thực hiện kiềm chế lẫn nhau và thiết lập “các thỏa thuận tạm thời có tính thực tiễn” để quản lý các tranh chấp của họ, cung cấp một nền tảng hẹp để thỏa hiệp. Nhưng các hiệp định phát triển chung song phương về dầu mỏ và khí đốt ở các vùng nước tranh chấp là tương đối ít, và không có trường hợp nào “thỏa thuận tạm thời” có liên quan đến ba hoặc nhiều bên. Tuy nhiên, việc tìm kiếm một con đường phía trước là cần thiết nếu các bên yêu sách hy vọng sẽ xoa dịu căng thẳng và tránh làm tổn hại đến an ninh năng lượng của họ.
Mặc dù có những khó khăn rõ ràng, các bên yêu sách có thể hợp tác phát triển dầu và khí đốt ở Biển Đông theo cách thức công bằng và phù hợp với luật pháp quốc tế cũng như luật của tất cả các bên liên quan. Làm như vậy sẽ đòi hỏi sự sáng tạo đáng kể và sẵn sàng thỏa hiệp, đặc biệt là Trung Quốc, hơn là những gì hiển nhiên từ trước tới nay. Một thỏa thuận như vậy sẽ cần phải trở thành khung chung để tất cả các bên yêu sách có thể tuyên bố rằng nó phù hợp với cách giải thích của họ về cả luật quốc gia và quốc tế. Khó khăn nhất là tìm cách để Bắc Kinh lý luận rằng sự hợp tác như vậy là phù hợp với những khẳng định “quyền lịch sử” của họ đồng thời đảm bảo rằng Manila có thể duy trì chiến thắng năm 2016 từ Tòa trọng tài ở The Hague và tất cả các quốc gia ven biển có thể duy trì thẩm quyền đối với thềm lục địa của họ.
Để đạt được sự cân bằng đó sẽ đòi hỏi một số nhượng bộ khó khăn về mặt chính trị nhưng khả thi về mặt pháp lý. Thứ nhất, Trung Quốc sẽ cần phải chấp nhận rằng việc được đảm bảo một phần lợi nhuận từ các nguồn dầu và khí đốt trên khắp Biển Đông sẽ đủ để thỏa mãn đòi hỏi của nước này về “các quyền lịch sử.” Điều này có nghĩa là chấp nhận một hệ thống trong đó các bên yêu sách khác thực hiện quyền tài phán bằng cách cấp phép thăm dò dầu và khí đốt miễn là Bắc Kinh có lợi. Điều này có thể xảy ra, bởi vì chưa từng có bộ luật nào, tuyên bố chính thức, hay văn bản chính phủ của Trung Quốc đã làm rõ chính xác những quyền lịch sử mà Bắc Kinh tuyên bố.
Thứ hai, tất cả các bên yêu sách phải sẵn sàng từ bỏ việc theo đuổi khoan dầu khí dựa trên các quyền được hưởng từ các thực thể địa lý đang trong tranh chấp ở Biển Đông. Các khu vực quản lý thủy sản xung quanh các hệ thống thực thể này có thể cung cấp một cách thức chính trị có thể chấp nhận được để ngăn việc thăm dò các thực thể đó mà không phải xử lý tình trạng pháp lý của thực thể hoặc các vấn đề phân định biển. Đối với Trung Quốc, quốc gia xem các đảo có đầy đủ vùng đặc quyền kinh tế và  thềm lục địa, điều này có thể được lý giải trong nội bộ như một cử chỉ rộng lượng và hành động thiện chí. Bắc Kinh có thể lý giải rằng ngay cả khi các thực thể tranh chấp là các đảo theo điều 121.3 của UNCLOS, bất kỳ sự phân định công bằng nào về ranh giới với các bờ biển dài hơn của các quốc gia Đông Nam Á đối diện chúng sẽ dẫn đến vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa bị giảm xuống chỉ còn là những vùng nước nhỏ mà các thực thể được hưởng. Đối với những bên yêu sách khác, đồng ý từ bỏ khoan thăm dò quanh các rạn san hô và đảo tranh chấp dựa trên nhu cầu bảo tồn môi trường có thể trở thành một lý do chính trị có thể chấp nhận được cho việc tập trung thăm dò và phát triển dầu khí trên các khu vực gần bờ biển đất liền hơn.
Những nhượng bộ này cần là trụ cột của thoả thuận mà không cần phải nêu rõ trong văn bản. Điều đó sẽ cho phép mỗi bên đồng ý về các cơ chế hợp tác trong khi vẫn có thể có những biện giải khác nhau bằng luật nội địa cho việc làm như vậy.
Để đạt mục tiêu đó, các bên yêu sách cần phải đồng ý:
1. Thành lập một liên doanh, dưới hình thức một thực thể thương mại mới, ở mỗi quốc gia yêu sách ven Biển Đông, có sự tham gia của công ty dầu khí quốc gia đó và các đối tác từ các bên yêu sách khác mà quan tâm đến đầu tư. Công việc duy nhất của mỗi liên doanh chỉ là thăm dò và sản xuất tài nguyên hydrocarbon ở ngoài khơi bờ biển của quốc gia đó trên Biển Đông. Đã có những mô hình liên doanh thành công giữa các công ty dầu khí quốc doanh hoạt động ở Biển Đông, nhưng một công ty đa phương được thành lập bởi các bên trong một vụ tranh chấp sẽ là đột phá.
  • Những liên doanh này nên tìm cách xin giấy phép cho các lô ngoài khơi ở Biển Đông được đưa ra bởi quốc gia mà liên doanh đặt trụ sở chính, thông qua thỏa thuận chia sẻ việc sản xuất hoặc thông qua hợp đồng dịch vụ, tùy thuộc vào luật nội địa của nước mời thầu. Điều này sẽ đảm bảo rằng tất cả các bên có cơ hội hưởng lợi từ việc sản xuất dầu và khí đốt trên khắp Biển Đông.
  • Các liên doanh nên tìm cách mua lại cổ phần mà mỗi công ty thành viên đã nắm giữ trong những giấy phép dầu khí ở các phần của Biển Đông mà họ quan tâm. Các hợp đồng hiện tại mà các quốc gia ven biển có với các bên khác sẽ không bị ảnh hưởng, nhưng các liên doanh nên tìm cách thu được các giấy phép đó khi chúng bị các nhà điều hành khai thác hiện tại từ bỏ. Các liên doanh cũng nên tìm cách mua cổ phần thiểu số trong các lô sản xuất thương mại mà nhà điều hành hiện tại không thể từ bỏ giấy phép sớm. Để khảo sát những lô dầu khí đã được cấp phép bởi các bên yêu sách của Đông Nam Á hoặc đang được mở để gọi thầu, hãy xem bản đồ bên dưới. Bản đồ này sẽ được cập nhật bổ sung các lô ngoài khơi của Trung Quốc và cung cấp chi tiết về các nhà điều hành, các cổ đông và thông tin sản xuất.
  • Các bên yêu sách phải công khai đồng ý rằng các quyết định của liên doanh đầu tư vào các lô cụ thể ở Biển Đông sẽ không ảnh hưởng đến các yêu sách lãnh thổ hoặc sự phân định ranh giới biển cuối cùng, và không thể được hiểu là sự công nhận yêu sách của bất kỳ bên nào bởi các thành viên còn lại của liên doanh. Để làm được việc đó, một điều khoản bảo lưu lập trường rõ ràng nên được đưa vào các thỏa thuận thành lập liên doanh và trong tất cả các hợp đồng mà họ tham gia.
  • Mỗi bên yêu sách sẽ được đảm bảo quyền đầu tư trong mỗi liên doanh thông qua các công ty dầu khí quốc gia của họ, nhưng sẽ không có nghĩa vụ phải làm như vậy. Điều này có nghĩa là một bên yêu sách, chẳng hạn như Trung Quốc, có thể có một công ty đầu tư vào từng liên doanh trong khi nước khác có thể đầu tư vào chỉ một hoặc hai. Bất kỳ bên yêu sách nào không có công ty dầu khí quốc gia đầu tư vào một liên doanh cụ thể tại thời điểm thành lập liên doanh này sẽ được hoan nghênh làm như vậy trong tương lai. Ngược lại, mỗi công ty sẽ được tự do thoái vốn tại bất kỳ liên doanh nào vào bất kỳ thời điểm nào (nhưng chỉ được bán lại cổ phần cho các công ty dầu khí quốc gia còn lại).
  • Cổ phần sở hữu bình đẳng của mỗi công ty tham gia vào liên doanh có thể thích hợp hơn trong một số trường hợp, trong khi ở trường hợp khác công ty nào đó có thể muốn đầu tư nhiều hay ít tùy thuộc vào năng lực và mối quan tâm của họ. Những chi tiết này nên được để lại để thương lượng và điều chỉnh khi cần thiết. Tương tự như vậy, các chi tiết về cách thức mỗi công ty đưa ra quyết định đầu tư và mỗi cổ đông hoạt động như nhà điều hành trong bất kỳ dự án cụ thể nào nên để lại cho các công ty dầu khí quốc gia tự đàm phán. Lợi nhuận từ hoạt động của liên doanh nên được chia sẻ dựa trên cổ phần của mỗi công ty đối tác trong tập đoàn.
Các lô dầu khí ở Biển Đông hiện đang được các quốc gia Đông Nam Á cấp phép. Nguồn bản đồ: AMTI/CSIS
2. Đồng ý rằng tất cả các quốc gia ven Biển Đông có thể cho phép thăm dò và sản xuất dầu khí trong phạm vi 200 hải lý từ đường bờ biển của họ trong khi chờ đợi sự phân định cuối cùng các yêu sách biển. Trong các khu vực chồng lấn yêu sách, trừ khi đạt được thỏa thuận song phương trước đó, một đường trung tuyến nên được sử dụng để xác định quốc gia nào tạm thời có quyền cấp giấy phép thăm dò và sản xuất. Sự sắp xếp này được trình bày chi tiết trong bản đồ dưới đây.
  • Các bên yêu sách phải công khai đồng ý rằng việc thành lập các lô ngoài khơi sẽ không ảnh hưởng đến các yêu sách lãnh thổ hoặc sự phân định ranh giới biển cuối cùng, và không thể được hiểu là sự công nhận yêu sách của của các bên khác. Bất kỳ giấy phép nào do các quốc gia ven biển đưa ra cũng phải kết hợp điều khoản bảo lưu lập trường ​​xác định rằng thỏa thuận tạm thời này sẽ không ảnh hưởng đến việc phân định ranh giới cuối cùng.
  • Quá trình cấp phép sẽ hoạt động theo luật pháp nội địa của các quốc gia ven biển. Trong một số trường hợp, các chính phủ có thể cấp giấy phép cho liên doanh tham gia vào việc thăm dò và sản xuất hydrocarbon ngoài khơi bờ biển của quốc gia đó, trong khi ở những liên doanh khác có thể sẽ cần đấu thầu cạnh tranh. Ngay cả trong những trường hợp được yêu cầu đấu thầu, các liên doanh sẽ có những lợi thế đáng kể – về chính trị và mặt khác – so với các đối thủ cạnh tranh.
  • Nhà nước ven biển cấp giấy phép mà một trong những liên doanh lấy được thì cũng sẽ được hưởng cùng một phần lợi nhuận (phần lớn trong hầu hết các trường hợp) và có quyền đánh thuế như trong việc cấp giấy phép cho bất kỳ công ty nào khác. Điều này sẽ đảm bảo rằng các nước duyên hải hưởng lợi nhiều nhất từ ​​các nguồn tài nguyên ngoài khơi bờ biển của họ trong khi vẫn cho phép tất cả các thành viên trong liên doanh chia sẻ lợi nhuận.
  • Bất kỳ khung phát triển chung hiện có nào, chẳng hạn như giữa Malaysia và Brunei ngoài khơi bờ biển Brunei hoặc giữa Malaysia và Việt Nam gần lối vào Vịnh Thái Lan (xem bản đồ), sẽ không thay đổi. Liên doanh mới thành lập sẽ tìm cách xin giấy phép tại các khu vực này như bất kỳ công ty dầu khí nào, trong khi các quốc gia ven biển sẽ đấu thầu giấy phép và chia lợi nhuận theo thỏa thuận từ trước của họ.
    Các khu vực mà các nước có yêu sách Biển Đông sẽ tạm thời có quyền cấp giấy phép thăm dò và sản xuất hydrocarbon, trong khi chờ phân định ranh giới biển cuối cùng. Nguồn bản đồ: AMTI/CSIS
3. Đồng ý từ bỏ thăm dò dầu khí trong các khu bảo tồn thủy sản ở các hệ thống rạn san hô quan trọng của Biển Đông, bao gồm quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, các bãi cạn Scarborough và Luconia. Những khu bảo tồn này được xác định bởi một cơ quan đa phương gồm các chuyên gia độc lập và các quan chức khu vực (xem Đề án chi tiết cho quản lý nghề cá và hợp tác môi trường).
4. Tiến hành một cuộc khảo sát dầu khí chung, được thực hiện bởi một hoặc nhiều công ty, trong khu vực đáy biển ở trung tâm Biển Đông bên ngoài khu vực 200 hải lý từ đường bờ biển mỗi quốc gia như một biện pháp tạm thời. Điều này sẽ là một sự thừa nhận rằng một số khu vực nằm ngoài 200 hải lý là đối tượng của các yêu sách thềm lục địa chồng lấn nhau của các nước ven biển trong khi các khu vực khác có thể hoàn toàn nằm ngoài bất kỳ thềm lục địa nào và do đó tạo thành một phần di sản chung của nhân loại.
Bản đề án này đại diện cho sự đồng thuận giữa các thành viên của Nhóm công tác chuyên gia Biển Đông tại CSIS với tư cách cá nhân và không đại diện cho quan điểm của các tổ chức mà họ là thành viên.
Nhóm dịch và hiệu đính là cộng sự của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông. Nguồn bản gốc tiếng Anh: https://amti.csis.org/a-blueprint-for-cooperation-on-oil-and-gas-production-in-the-south-china-sea/
Những bài đăng trên Dự án Đại Sự Ký Biển Đông thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết là quan điểm của tất cả các thành viên, cộng tác viên hay nhà tài trợ Dự án Đại Sự Ký Biển Đông.
Tác giả: Nhóm công tác chuyên gia CSIS
Asia Maritime Transparency Initiative ngày 25 tháng 7 năm 2018
Biên dịch: Nguyễn Phúc Thiện | Hiệu đính: Trần Lê Quỳnh
Dự án Đại Sự Ký Biển Đông ngày 2 tháng 8 năm 2018

"Tổ tiên" nào để lại Biển Đông cho ông Tập Cận Bình?


Nếu hiểu lịch sử, cái gì không phải của mình thì 1 phân cũng không thiết, ông Tập Cận Bình nên trả những vùng lãnh thổ không phải của Trung Quốc, cho chủ cũ.

The New York Times ngày 29/6/2018 đưa tin, dưới sự lãnh đạo của ông Tập Cận Bình, các quan chức Trung Quốc đang tăng cường giáo dục chính trị cho sinh viên hơn 2500 trường đại học tại quốc gia này.

Các sinh viên Trung Quốc buộc phải hoàn thành 5 môn chính trị mới có thể tốt nghiệp, bao gồm:

Chủ nghĩa Mác, Tư tưởng đạo đức, Lịch sử Trung Quốc cận hiện đại, Tìm hiểu tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, Chính sách với các dân tộc thiểu số. [1]

Tham vọng của ông Tập Cận Bình trên Biển Đông

Ngày 27/6/2018 trước những chỉ trích của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis về vấn đề Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông, leo thang căng thẳng và gây lo ngại trong khu vực, ông Tập Cận Bình nói rằng:

"Lãnh thổ mà tổ tiên để lại, một tấc cũng không được đánh mất. Thứ gì của người khác thì một phân chúng tôi cũng không cần".

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, ảnh: Time / Getty Images.

Đáp lại phát biểu này của ông Tập Cận Bình, Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis một lần nữa nhắc lại rõ ràng về lợi ích của Mỹ cũng như tất cả các quốc gia trong việc tuân thủ luật pháp quốc tế, tự do hàng hải trên Biển Đông. Ông nói:

"Chúng tôi nghe được rất nhiều phàn nàn và quan ngại của các nước trong khu vực về hành vi của Trung Quốc và cách thức Trung Quốc theo đuổi (những gì Bắc Kinh cho là) lợi ích của mình.

Nhưng chúng tôi nhìn thấy khả năng phản tác dụng của những hành vi này đối với lợi ích của người dân Trung Quốc."

Một quan chức quân sự Mỹ tham dự cuộc gặp này cho biết, giới chức Trung Quốc bày tỏ họ rất thất vọng trước việc Lầu Năm Góc hủy lời mời Bắc Kinh tham gia cuộc tập trận Vành đai Thái Bình Dương 2018 vì quân sự hóa Biển Đông.

Tướng James Mattis đã giải thích rõ ràng về mục đích của cuộc tập trận này, và hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông không phù hợp với các giá trị và nguyên tắc ấy nên Mỹ phải hủy lời mời. [2]

Trước đó nhà lãnh đạo Trung Quốc khẳng định, nước này sẽ kiên trì con đường phát triển hòa bình, không theo con đường bành trướng và chủ nghĩa thực dân, càng không làm cho thế giới hỗn loạn.

Phát biểu trên của ông Tập Cận Bình được cho là đáp lại những chỉ trích của tướng James Mattis về việc Trung Quốc bành trướng quân sự trên Biển Đông và nhấn mạnh lập trường bảo vệ tự do hàng hải, luật pháp quốc tế trên vùng biển này.

Khi hội đàm với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa, tướng James Mattis cũng nhắc lại lời hứa của ông Tập Cận Bình năm 2015 về việc không quân sự hóa Biển Đông.

Ông Giả Khánh Quốc - Phó Viện trưởng Viện Quan hệ quốc tế, Đại học Bắc Kinh nói với The New York Times:

Các động thái và phản ứng của Trung Quốc, Hoa Kỳ liên quan đến Biển Đông và Đài Loan đều có xu hướng gia tăng căng thẳng, bởi sự hoài nghi lẫn nhau đang chi phối, điều này có thể làm tăng rủi ro mất kiểm soát.

Bắc Kinh đặc biệt "quan ngại" vấn đề Đài Loan và khả năng nội các Tổng thống Donald Trump sẽ thử giới hạn chịu đựng của Trung Quốc trong vấn đề này.

Còn trên Biển Đông, các hành động phản ứng của Hoa Kỳ với Trung Quốc chủ yếu mang tính tượng trưng như việc Mỹ cho B-52 bay qua Trường Sa, trong khi Trung Quốc đã cài đặt (bất hợp pháp) tên lửa phòng không, chống hạm trên các đảo, đảo nhân tạo. [3]

"Tổ tiên" nào để lại Biển Đông cho ông Tập Cận Bình?

Trước tuyên bố của ông Tập Cận Bình rằng "một tấc lãnh thổ tổ tiên để lại" quyết không để mất khi đáp lại các chỉ trích của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ về hành vi bành trướng trên Biển Đông, nhà bình luận người Duy Ngô Nhĩ, Ilshat Hassan đã đặt câu hỏi:

Vậy tổ tiên của ông Tập Cận Bình là ai?
Nhà bình luận Ilshat Hassan, ảnh: Uyghurnet.

Theo ông Ilshat Hassan, phát biểu này của ông Tập Cận Bình xem ra có vẻ cứng rắn, nhưng cứng rắn không có nghĩa là đúng đắn, bởi người Trung Quốc có câu "hữu lý bất tại thanh cao", đại ý không phải cứ cả vú lấp miệng em là có lý.

Để làm rõ tuyên bố của ông Tập Cận Bình trong bối cảnh này có hợp lý và có căn cứ hay không, Ilshat Hassan cho rằng phải làm rõ ai là "tổ tiên" của ông ấy (để lại yêu sách lãnh thổ trên Biển Đông)?

Ilshat Hassan tin rằng làm rõ việc này không khó, bởi lịch sử Trung Quốc về cơ bản không quá phức tạp.

"Tổ tiên" mà ông Tập Cận Bình đề cập, chỉ có 2 khả năng, một là các đế quốc Nguyên Mông và Mãn Thanh đã chinh phục Trung Nguyên.

Đây là 2 triều đại xâm lược và chinh phục đất đai nhiều nhất lịch sử Trung Quốc, đặc biệt là nhà Mãn Thanh.

Nhưng nếu coi 2 triều đại này là "tổ tiên", Ilshat Hassan cho rằng ông Tập Cận Bình đã nhận lầm, tri thức lịch sử Trung Quốc bằng không.

Nếu xem các vương triều Trung Nguyên của người Hán là "tổ tiên" và ông Tập Cận Bình là người kế thừa, thì triều đại cuối cùng là nhà Minh, trên đất liền lấy Vạn Lý Trường Thành làm biên giới, các vùng duyên hải lấy bờ biển làm biên giới.

Ngoài thái giám Trịnh Hòa có chuyến đi thám hiểm Tây phương, có thể nói nhà Minh là triều đại bế quan tỏa cảng nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Trung Quốc.

Cho nên, nếu coi nhà Minh là "tổ tiên" thì chẳng những Biển Đông không phải "của" nhà Minh truyền lại cho ông Tập Cận Bình, mà ngay cả Tân Cương, Tây Tạng, Nam Mông Cổ, Mãn Châu và Đài Loan cũng không phải của "tổ tiên" ông ấy để lại, Ilshat Hassan bình luận.

Vì vậy, nếu am hiểu lịch sử Trung Hoa và khẳng định, cái gì không phải của mình thì 1 phân cũng không thiết, ông Tập Cận Bình nên trả những vùng lãnh thổ không phải của Trung Quốc, cho chủ cũ, ông Ilshat Hassan kết luận. [4]

Nguồn:

[1]https://cn.nytimes.com/china/20180629/chinese-classrooms-education-communists/

[2]http://freebeacon.com/national-security/mattis-hits-south-china-sea-military-buildup-talks-xi/

[3]https://cn.nytimes.com/china/20180628/mattis-xi-china-sea/?utm_source=top10-in-article&utm_medium=email&utm_campaign=web

[4]http://www.uyghurnet.org/cn/%E8%B0%81%E6%98%AF%E4%B9%A0%E8%BF%91%E5%B9%B3%E7%9A%84%E8%80%81%E7%A5%96%E5%AE%97%EF%BC%9F-%EF%BC%88%E4%BC%8A%E5%88%A9%E5%A4%8F%E6%8F%90%EF%BC%89/

Hồng Thủy - GDVN.

Sau Biển Đông, cảnh báo cuối cùng cho sông Mekong


Viện Lowy của Úc tiếp tục đánh động thế giới về mưu đồ của Trung Quốc đối với sông Mekong, đặc biệt sau khi nước này quân sự hóa xong Biển Đông. Đông Nam Á cần phải hành động trước khi quá muộn.

Bài viết dưới đây đăng trên trang The Interpreter của Viện Lowy do chuyên gia Elliot Brennan chấp bút. Ông Brennan là nhà nghiên cứu độc lập từng cộng tác với Viện An ninh và chính sách phát triển (Thụy Điển), trang phân tích quốc phòng IHS Jane, Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (Mỹ)...

Đập thủy điện Cảnh Hồng ở Trung Quốc - Ảnh: BLOOMBERG

Sau bao nhiêu ồn ào, đến giờ phút này có thể nói công cuộc bồi đắp và quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông đã gần xong. Bắc Kinh giờ đây có thể kiểm soát một trong những tuyến vận tải huyết mạch của thế giới, biến luật pháp quốc tế thành trò đùa.


Nhưng chưa dừng lại ở đó, đích nhắm sắp tới của Bắc Kinh sẽ là một động mạch quan trọng khác chạy xuyên lục địa Đông Nam Á: Sông Mekong.

Bắt nguồn từ Trung Quốc với tên gọi Lan Thương, sông Mekong kết nối các quốc gia Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Kiểm soát sông Mekong chính là "lát cắt salami" còn lại, với một nửa kia là Biển Đông, giúp Trung Quốc nắm thế chiến lược "kẹp sandwich" cả lục địa Đông Nam Á.

Campuchia, Việt Nam sẽ lãnh đủ


Kiểm soát dòng chảy Mekong bằng hệ thống đập dày đặc đồng nghĩa với kiểm soát khả năng tiếp cận nguồn lương thực - sinh kế của hàng chục triệu người thuộc các cộng đồng sống ven sông.

Trong tất cả đập thủy điện đang vận hành trên sông Mekong hiện nay, phần lớn công suất thuộc về các đập nằm trên đất Trung Quốc, chiếm hơn 15.000 Megawatt (MW). Chỉ riêng đập Nọa Trát Độ thuộc địa phận tỉnh Vân Nam đã có công suất 5.850 MW, chưa tính nửa tá đập khác công suất trên 1.000 MW.

Nếu gộp lại, các đập của Trung Quốc có thể giữ tổng cộng 23 tỉ m3 nước - tương đương 27% lượng nước chảy hàng năm giữa Trung Quốc và Thái Lan. Các đập khác nằm ở hạ lưu với công suất chỉ vài chục đến vài trăm MW không đáng là bao nếu mang ra so sánh.

Tóm lại, Trung Quốc bây giờ đã có thể điều khiển dòng chảy sông Mekong, đặc biệt là vào mùa khô, khi Cao nguyên Tây Tạng đóng góp đến 40-70% lượng nước cho dòng sông.

Tác động đối với an ninh lương thực bây giờ đã lớn, nhưng về sau sẽ còn kinh hoàng hơn nếu 11 dự án đập khổng lồ đang đề xuất được thông qua (trong đó hết một nửa do Trung Quốc chống lưng).

Một báo cáo gần đây của UNESCO và Viện Môi trường Stockholm dự báo lượng phù sa của sông Mekong sẽ giảm 94% một khi các con đập mới xây xong, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động đánh bắt cá và sức khỏe nói chung của sông Mekong.

Đáng lo hơn, các chuyên gia phát hiện những lời hứa hẹn "kích cầu kinh tế, tăng sản lượng điện" cho các nền kinh tế khu vực Hạ Mekong chỉ là dối trá. Phần lớn năng lượng trong các dự án đang đề xuất sẽ thẳng tiến Trung Quốc, trong khi các nước còn lại phải gánh những hậu quả kinh tế tiêu cực.

Người ta dự báo trong 50 năm tới, các nền kinh tế hạ lưu sông Mekong sẽ tổn thất ròng khoảng 7,3 tỉ USD, trong đó hai nước cuối nguồn là Việt Nam và Campuchia sẽ thiệt hại nhiều nhất. Đó là chưa kể những tổn thất không thể nào đo đếm được về mặt xã hội.

Công trường dự án đập Don Sahong ở Lào - Ảnh: BLOOMBERG

Dự án Thiên Hà - mối nguy mới


Đã có nhiều lo lắng về việc Bắc Kinh dùng đập nước như một "vũ khí hủy diệt". Chỉ cần Trung Quốc xả một lượng nước lớn nhưng không thông báo trước, hiệu ứng domino sẽ buộc các đập dưới hạ nguồn phải xả đồng loạt và gây ra lũ quét trên diện rộng.

Trung Quốc còn một quân bài khác ít gây chú ý hơn nhưng không kém phần nguy hiểm: Dự án Thiên Hà. Nói vắn tắt, mục đích của dự án này là làm tăng lượng mưa ở các vùng khô hạn trên Cao nguyên Tây Tạng thêm 10 tỉ m3 - tương đương 7% mức tiêu thụ nước hiện tại của Trung Quốc - bằng công nghệ "cloud seeding" (gieo mây, làm mưa nhân tạo).

Nước mưa rơi xuống Cao nguyên Tây Tạng một phần sẽ chảy dồn vào lưu vực của các con sông xuyên quốc gia như Mekong, Brahmaputra, Indus, và Salween; phần còn lại Trung Quốc có thể điều tiết tùy theo nhu cầu của họ bằng hệ thống đập va công trình thủy lợi.

Tuy nhiên, chuyên gia Janos Pasztor thuộc Tổ chức Hội đồng Carnegie (Mỹ), lưu ý rằng công nghệ "cloud seeding" không tạo ra thêm mưa mà nó chỉ lấy ở nơi này chuyển sang nơi khác, tức là khiến mưa xảy ra ở một nơi nhất định, có nghĩa ở một nơi khác mưa sẽ biến mất".

Kiểm soát thời tiết, bảo đảm rằng mưa rơi trên lãnh thổ Trung Quốc chính là bước tiếp theo giúp Bắc Kinh kiểm soát dòng nước chảy vào các nước láng giềng. Điều này đáng sợ một phần cũng do thành tích quản lý môi trường khét tiếng của Trung Quốc: 70% sông hồ ở Trung Quốc ô nhiễm nặng.

Trung Quốc thay trời làm mưa hẳn không phải tin lành. Lúc tốt thì nó khuyến khích các quốc gia láng giềng xây đập thủy điện, lúc (quan hệ) tồi tệ thì chúng ta có hạn hán nghiêm trọng ở cuối nguồn, và cả món vũ khí nước hủy diệt.

Bồi đắp ở Biển Đông, phá hủy ở Mekong


Đập nước và mưa cũng chưa phải là hết.

Trái ngược với hành động bồi đắp ở Biển Đông, Trung Quốc đã tiến hành trên sông Mekong cái gọi là "Dự án Cải thiện luồng lạch".

Nói đơn giản, đó là hành động cho phá nổ các cồn đất, bãi đá và luồng xoáy trên sông Mekong để hình thành nên tuyến giao thông xuyên qua trái tim của lục địa Đông Nam Á đến tận Lào.

Trớ trêu nằm ở chỗ, cái giá để tạo ra tuyến vận chuyển mới cho hàng hóa Trung Quốc xâm chiếm khu vực lại là những tổn thất nặng nề về môi trường và xã hội của chính các nền kinh tế Đông Nam Á.

Có lẽ vì thấy trước điều này nên Thái Lan đến nay vẫn chưa đồng ý với dự án nạo vét sông Mekong trên phần đất của mình.

Mối quan ngại về sông Mekong và nhiều con sông khác trong chiến lược địa chính trị của Trung Quốc không phải mới mẻ, nhưng dường như nhiều sự kiện nhỏ đã dẫn cả khu vực đến "điểm tới hạn" - tức bước ngoặt dẫn đến những thay đổi lớn.

Các nước Đông Nam Á chỉ có 2 lựa chọn, phản ứng hoặc ngồi yên chịu tổn thất.

TTO.

Trung Quốc tuyên bố đang triển khai binh lính, vũ khí xuống Hoàng Sa, Trường Sa


Đã đến lúc Bắc Kinh không thể che đậy được sự thật, thì quay ra công khai thừa nhận việc quân sự hóa Biển Đông.

South China Morning Post ngày 2/6 dẫn lời He Lei, trưởng đoàn Trung Quốc dự Đối thoại An ninh Shangri-la tuyên bố: Bắc Kinh đang triển khai binh lính và vũ khí xuống Biển Đông, đó là "quyền" của Trung Quốc.

He Lei, một viên Trung tướng - Phó giám đốc Học viện Khoa học quân sự Trung Quốc được cử làm trưởng đoàn đã trắng trợn tuyên bố:

"Việc triển khai binh lính và vũ khí trên các đảo ở Biển Đông là nằm trong chủ quyền của Trung Quốc, được luật pháp quốc tế cho phép.


Tất cả các nhận xét vô trách nhiệm về chủ đề này là xâm phạm vấn đề nội bộ của Trung Quốc", He Lei họp báo chỉ 2 giờ sau bài phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis.

Ông He Lei, Phó giám đốc Học viện Khoa học quân sự Trung Quốc, trưởng đoàn dự Đối thoại Shangri-la 2018. Ảnh: AP.

Viên tướng này cũng so sánh việc xây dựng các tiền đồn quân sự (bất hợp pháp) ở Biển Đông với quyết định của Đặng Tiểu Bình điều quân đến chốt tại Hồng Kông sau khi bàn giao năm 1997.

Đây là lần đầu tiên 1 quan chức Trung Quốc công khai thừa nhận tại một sự kiện quốc tế rộng rãi về kế hoạch của Bắc Kinh để đưa quân và vũ khí xuống các căn cứ xây dựng (trái phép) trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam, Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp).

South China Morning Post nhắc lại, năm 2015 khi họp báo chung với Tổng thống Barack Obama tại Nhà Trắng, ông Tập Cận Bình đã phủ nhận Trung Quốc có kế hoạch quân sự hóa Biển Đông.

Tuy nhiên, những bức ảnh chụp từ vệ tinh được công bố tháng trước cho thấy Bắc Kinh đã xây dựng được ít nhất 4 sân bay có thể cất hạ cánh máy bay quân sự: đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa và 3 cấu trúc tại Trường Sa: Vành Khăn, Chữ Thập, Xu Bi.

Họ cũng chủ động đưa video một máy bay ném bom H-6K cất hạ cánh trên đảo Phú Lâm. Ở đảo nhân tạo ngoài Trường Sa, đã xuất hiện tên lửa hành trình chống hạm YJ-12B và tên lửa phòng không HQ-9B.

Tổng biên tập tạp chí quân sự Kanwa Asian Defense, Andrei Chang bình luận, Bắc Kinh đã nhận ra rằng không thể tiếp tục che đậy bản chất thực sự các ý đồ của họ ở Biển Đông. Ông nói:

"Những hình ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy Bắc Kinh đã đẩy mạnh tiến độ quân sự hóa các tiền đồn trên đảo, sẽ trở thành căn cứ hải quân và không quân của quân đội Trung Quốc trong tương lai.

Các cơ sở và các tòa nhà với hai bên là các thiết bị ra đa trên các hòn đảo này không phải sử dụng cho mục đích dân sự, mà là một khu phức hợp quân sự quy mô lớn." [1]

The New York Times ngày 1/6 cho biết, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã cảnh báo Trung Quốc tại Đối thoại An ninh Shangri-la, việc hủy lời mời Trung Quốc tham gia tập trận Vành đai Thái Bình Dương 2018 (RIMPAC) chỉ là một phản ứng ban đầu với hành vi quân sự hóa Biển Đông.

Ông nói: "Đó là một hậu quả tương đối nhỏ, tôi tin rằng sẽ có những hậu quả lớn hơn nhiều trong tương lai". [2]

Nguồn:



Hồng Thủy - GDVN.

Mỹ cảnh báo cho ‘nổ tung’ đảo nhân tạo Trung Quốc xây trái phép


Lầu Năm Góc tiếp tục ra tuyên bố cứng rắn đối với việc Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông, và lần này là khả năng "xóa sổ" các đảo nhân tạo mà Bắc Kinh bồi đắp trái phép.

Trung tướng Kenneth McKenzie - giám đốc Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ - Ảnh: REUTERS

Ngày 31-5 (giờ Mỹ), khi được phóng viên đặt câu hỏi về khả năng Mỹ cho "nổ tung" một trong các đảo nhân tạo Trung Quốc bồi đắp trái phép ở Biển Đông, trung tướng Kenneth McKenzie - giám đốc Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, đã đưa ra câu trả lời hết sức cứng rắn.

"Tôi chỉ muốn nói cho các bạn biết rằng quân đội Mỹ có nhiều kinh nghiệm trong việc xóa sổ các đảo nhỏ ở Tây Thái Bình Dương" - ông McKenzie khẳng định.

Là một trong những quan chức cấp cao nhất bên trong Lầu Năm Góc, phát ngôn của trung tướng McKenzie có sức nặng đặc biệt, đài CNN nhận định.

Ông McKenzie đóng vai trò là quan chức cấp cao làm việc cho tướng Joseph Dunford - chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ. Ông thường xuyên xuất hiện trong các cuộc họp với cả ông Dunford và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis.

Cũng trong tuyên bố đưa ra ngày 31-5, trung tướng McKenzie nhấn mạnh quân đội Mỹ hiện đã "sẵn sàng bảo vệ các lợi ích của Mỹ và đồng minh trong khu vực".

Việc "xóa sổ" các đảo nhỏ được nêu ra trong tuyên bố của ông McKenzie đề cập tới các hoạt động của quân đội Mỹ trong thời kỳ Thế chiến 2 khi hàng ngàn binh sĩ Mỹ đã hi sinh trong lúc chiến đấu trên một vài đảo ở Thái Bình Dương.

Liên quan tới hoạt động tuần tra tự do hàng hải (FONOPs) của Hải quân Mỹ, ông Mc Kenzie nhấn mạnh: "Chúng tôi (Washington) sẽ tiếp tục tiến hành các hoạt động tự do hàng hải được luật pháp quốc tế cho phép. Và chúng tôi sẽ tiếp tục làm những gì chúng tôi đang làm".
Tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS Higgins (DDG-76) của Mỹ, môt trong hai tàu chiến Mỹ vừa triển khai để thách thức chủ quyền vô lý của Trung Quốc ở Hoàng Sa - Ảnh: HẢI QUÂN MỸ

Hôm 27-5, Hải quân Mỹ đã điều 2 tàu chiến tiến vào vùng nước 12 hải lý xung quanh các đảo Cây, Phú Lâm, Linh Côn, và Tri Tôn. Các thực thể này thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam nhưng bị Trung Quốc chiếm đóng và kiểm soát trái phép.

Không ngạc nhiên khi hành động của Mỹ ngay lập tức vấp phải sự chỉ trích của Trung Quốc. Việc Mỹ đưa tàu chiến tiến vào vùng nước 12 hải lý xung quanh các đảo do Trung Quốc kiểm soát đồng nghĩa Washington bác bỏ yêu sách chủ quyền vô lý của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Hôm 30-5, đô đốc Harry Harris - cựu tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương Mỹ (PACOM), nhận định Trung Quốc là "mối đe dọa dài hạn lớn" ở châu Á.

"Nếu không có sự can thiệp, can dự có trọng tâm của Mỹ cùng các đồng minh và đối tác, Trung Quốc sẽ hiện thực hóa giấc mộng bá chủ của họ tại châu Á" - ông Harris, người được bổ nhiệm làm đại sứ Mỹ ở Hàn Quốc, nêu cảnh báo.

Các hình ảnh vệ tinh gần đây cho thấy Trung Quốc đã triển khai trái phép tên lửa đất đối không, tên lửa chống hạm, thiết bị gây nhiễu điện tử... tới các thực thể ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Lần đầu tiên nước này còn ngang nhiên cho hạ cánh máy bay ném bom lên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Hôm 31-5, Chính phủ Trung Quốc gọi tuyên bố của Mỹ nói rằng Bắc Kinh đang quân sự hóa Biển Đông là "nực cười". Tuy nhiên, đầu tuần này, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis khẳng định Trung Quốc đã không làm đúng như tuyên bố của nước này về việc không quân sự hóa Biển Đông.

"Chính xác là họ (Trung Quốc) đã làm việc đó. Họ chuyển tới đó những thứ vũ khí mà chưa bao giờ được thấy trước đây" - Bộ trưởng Mattis cho biết.

TTO.

Việt Nam lên tiếng về hoạt động của Trung Quốc, Đài Loan, Philippines ở Biển Đông


Một tàu bảo vệ bờ biển Đài Loan trong một lần diễn tập.

Bộ Ngoại Giao Việt Nam phản đối các cuộc tập trận bắn đạn thật do Trung Quốc tiến hành tại quần đảo Hoàng Sa; Đài Loan tiến hành tại quần đảo Trường Sa, và Philippines nâng cấp đường băng ở đảo Thị Tứ.

Tại cuộc họp báo chiều 31/5, bà Lê Thị Thu Hằng, phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, không có hoạt động gây căng thẳng và phức tạp tình hình ở khu vực. Bà cũng kiên quyết phản đối và yêu cầu Đài Loan không để tái diễn các hoạt động tương tự.

Trả lời báo chí về thông tin Philippines tiến hành sửa chữa nâng cấp đường băng ở đảo Thị Tứ, thuộc quần đảo Trường Sa, bà Hằng nêu rõ "Mọi hoạt động được tiến hành tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không có sự cho phép của Việt Nam đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam và bất hợp pháp. Lập trường nhất quán của Việt Nam là mọi tranh chấp ở Biển Đông cần được giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế".

Tin cho biết từ ngày 9/5/2018 đến ngày 12/5/2018, Trung Quốc tiến hành các cuộc diễn tập bắn đạn thật ở quần đảo Hoàng Sa.

Từ ngày 23/5/2018 đến ngày 25/5/2018, Đài Loan tổ chức bắn đạn thật tại đảo Ba Bình, thuộc quần đảo Trường Sa.

Mỗi khi có động thái nào của Trung Quốc tại Biển Đông và bị báo giới chất vấn, phát ngôn nhân Lê Thị Thu Hằng đều lặp lại tuyên bố Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền và quyền tài phán không thể chối cãi tại khu vực Biển Đông.

Theo RFA.

Biển Đông: Bắc Kinh tìm cách ngăn chận công kích tại Diễn đàn Shangri-La


Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ James Mattis phát biểu tại diễn đàn Shangri-La năm 2017REUTERS/Edgar Su

Bị lên án xây dựng tiền đồn, quân sự hóa Biển Đông, phái đoàn Trung Quốc tham dự Diễn đàn An ninh thường niên khu vực tại Singapore trong ba ngày cuối tuần, kể từ ngày 01/06/2018, sẽ cố gắng tác động lên chương trình thảo luận, hóa giải mọi chỉ trích. Diễn đàn Shangri-La năm nay đặc biệt tập trung vào Biển Đông và Bắc Triều Tiên.

Năm nay, Diễn đàn Đối thoại Sangri-La có thể sẽ biến thành một cuộc « trao đổi hàn lâm », thay vì là cơ hội thảo luận về chính sách an ninh khu vực trong bối cảnh Biển Đông căng thẳng.

Theo báo Hồng Kông South China Morning Post ngày 31/05/2018, Bắc Kinh tìm cách tác động lên thể thức thảo luận, hầu hóa giải những tiếng nói phản đối chính sách xâm lấn Biển Đông. Chiến thuật của Trung Quốc năm nay là không cử một chiến lược gia quân sự làm trưởng đoàn, thay vào đó là tướng Hà Lôi (He Lei), phó chủ tịch Viện Hàn Lâm Khoa Học Quân Sự.

Một sĩ quan khác của Trung Quốc sẽ nhấn mạnh đến mối hợp tác giữa Trung Quốc và Ấn Độ, trước khi thủ tướng Ấn Độ Modi trình bày về nguy cơ xung đột tiềm tàng trong khu vực.

Diễn đàn An ninh châu Á - do Viện Nghiên Cứu Chiến Lược (IISS) tổ chức hàng năm - được sự tham gia của các bộ trưởng quốc phòng và giới chức khác từ 50 quốc gia, trong đó có Trung Quốc, Mỹ, Pháp, Nhật, Úc và các quốc gia Đông Nam Á. Chương trình nghị sự năm nay đặc biệt tập trung vào Biển Đông và Bắc Triều Tiên. Trong bài diễn văn đọc tại Singapore vào thứ Bảy 02/06, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ sẽ nhấn mạnh đến thái độ của hải quân Trung Quốc, đe dọa an ninh khu vực « Ấn Độ- Thái Bình Dương », là mối thách thức của hải quân Mỹ-Ấn.

Chính sách của Trung Quốc tại Biển Đông cũng làm cho tổng thống Philippines Rodrrigo Duterte, có tiếng thân Bắc Kinh, cũng phải cảnh báo : nếu Trung Quốc làm cho một người lính Philippines đổ máu trong vùng biển tranh chấp, thì Manila có thể sẽ tuyên chiến.

Theo RFI.

Bước đi nguy hiểm của Trung Quốc ở Biển Đông


Giới chuyên gia cảnh báo, Trung Quốc có thể sắp hoàn tất quá trình quân sự hóa trái phép ở Biển Đông với việc Bắc Kinh gần đây liên tiếp triển khai các khí tài quân sự tới vùng biển này.

Trung Quốc ngang nhiên triển khai các khí tài quân sự trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. (Ảnh minh họa: Reuters)

Quân sự hóa Biển Đông


Đầu tháng này, CNBC của Mỹ dẫn nguồn tin tình báo cho biết, Trung Quốc đã ngang nhiên triển khai các tên lửa hành trình YJ-12B và tên lửa đất đối không tầm xa HQ-9B trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Không lâu sau, hôm 18/5, lần đầu tiên các máy bay ném bom của Trung Quốc ngang nhiên diễn tập trên một hòn đảo được cho là đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Hãng tin Fox News hôm qua dẫn ảnh chụp ngày 20/5 của ImageSat International cho thấy Trung Quốc đã triển khai thêm một hệ thống tên lửa đất đối không đến đảo Phú Lâm. Đây có thể là một hệ thống tên lửa đất đối không HQ-9 có tầm bắn hơn 200km và có thể tạo ra mối đe dọa với bất cứ máy bay quân sự hay dân sự nào khi tiếp cận khu vực này.

Lầu Năm Góc coi đây là những hành động “quân sự hóa” Biển Đông đi ngược lại với cam kết trước đó của Bắc Kinh. "Việc Trung Quốc tiếp tục quân sự hóa các thực thể trên Biển Đông chỉ làm gia tăng căng thẳng, gây bất ổn khu vực”, phát ngôn viên Lầu Năm Góc Chris Logan và cho biết thêm Mỹ đã quyết định hủy lời mời Trung Quốc tham gia cuộc tập trận Vành đai Thái Bình Dương 2018.

Trong khi đó, Philippines cũng bày tỏ “quan ngại sâu sắc” về những diễn biến này trên Biển Đông. Bộ Ngoại giao Philippines cho biết đang tiếp tục theo dõi các diễn biến trên Biển Đông có thể tác động đến hòa bình và ổn định ở khu vực. “Chúng tôi sẽ triển khai biện pháp ngoại giao phù hợp cần thiết để bảo vệ lập trường của chúng tôi và sẽ tiếp tục làm điều này trong tương lai”, thông báo của Bộ Ngoại giao Philippines cho biết.

Bước đi nguy hiểm

Một máy bay ném bom H-6K của Trung Quốc (Ảnh: Reuters)

Giới chuyên gia nhận định, cùng với triển khai các hệ thống tên lửa và radar, việc đưa máy bay ném bom diễn tập ở Hoàng Sa là động thái nguy hiểm của Trung Quốc. Các chuyên gia của Tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á (AMTI) nhận định, từ đảo này, các máy bay chiến đấu H-6K của Trung Quốc có thể tiếp cận tất cả các nước Đông Nam Á.

Cũng theo chuyên gia của AMTI, Trung Quốc có thể sẽ sớm hạ cánh các máy bay này trên quần đảo Trường Sa và vươn tới phía bắc Australia hoặc các căn cứ của Mỹ trên đảo Guam.

Trung Quốc được cho là đã nâng cấp các đường băng trên 3 thực thể gồm Đá Vành Khăn, Đá Chữ Thập và Đá Xubi. Gần đây, các máy bay vận tải quân sự của Trung Quốc đã hạ cánh phi pháp ở cả 3 đảo đá này.

Liên quan đến cuộc diễn tập của H-6K Trung Quốc, Derek Grossman, một chuyên gia quốc phòng thuộc tổ chức nghiên cứu Rand Corp, nhận định: “H-6K đáng lưu ý bởi nó có thể giúp Trung Quốc củng cố năng lực ném bom tầm xa nhằm vào các mục tiêu cả trên đất liền và trên biển. Hơn nữa, việc diễn tập hạ cánh xuống đảo Phú Lâm là cách để Trung Quốc đào tạo phi công trong điều kiện thực chiến”.

Giới chuyên gia cảnh báo, với những động thái tăng cường quân sự hóa trái phép Biển Đông gần đây, Trung Quốc có thể đang tiến gần tới thiết lập một Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở một trong những vùng biển quan trọng nhất thế giới này.

William Choong, chuyên gia thuộc Viện nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (IISS) ở Singapore, nhận định Trung Quốc có thể lập ADIZ như từng làm ở biển Hoa Đông năm 2013. Chuyên gia này cũng cho rằng, Bắc Kinh có thể sẽ lập một căn cứ tàu ngầm hạt nhân ở đây.

Ông Richard Heydarian, một chuyên gia về quan hệ quốc tế, cũng nhận định: "Trung Quốc đang hình thành khung cho một Vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông để tiến tới lập vùng đặc quyền lâu dài ở đây”.

Giám đốc AMTI Greg Poling cảnh báo: “Hiện nay, Trung Quốc có tất cả cơ sở hạ tầng để kết hợp phòng thủ và triển khai quân sự tại Hoàng Sa và Trường Sa”.

Dân Trí.

Trung Quốc bố trí tên lửa tại Trường Sa: Nguy cơ chiến tranh gia tăng

Trung Quốc đang nỗ lực xây dựng lòng tin và ảnh hưởng trong khu vực với nguồn tiền đầu tư rất lớn. Hành động quân sự hóa biển Đông sẽ làm hư hại nghiêm trọng những nỗ lực và hình ảnh của chính nước này


Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm giữ phi pháp

PGS-TS Vũ Thanh Ca - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế và Khoa học công nghệ, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, thành viên nhóm chuyên gia môi trường biển của Liên Hiệp Quốc - trao đổi với Báo Người Lao Động về việc Trung Quốc vừa âm thầm bố trí tên lửa tại Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

- Phóng viên: Xin ông đánh giá việc Trung Quốc bố trí tên lửa tại các thực thể chiếm đóng phi pháp tại quần đảo Trường Sa của Việt nam đã vi phạm như thế nào đến thỏa thuận cấp cao giữa Việt Nam - Trung Quốc, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC)?

+ PGS-TS Vũ Thanh Ca: Theo thông tin từ kênh truyền hình Mỹ CNBC, Trung Quốc đã bố trí trên Đá Chữ Thập, Đá Xu Bi và Đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam loại tên lửa chống hạm YJ-12B và tên lửa đất đối không tầm xa HQ-9B. Trung Quốc tuyên bố là hành động này của họ chỉ nhằm mục đích phòng vệ. Tuy vậy, theo quy định của luật pháp quốc tế, rõ ràng hành động của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và Tuyên bố về ứng xử các bên ở biển Đông (DOC) được ký kết bởi Trung Quốc và các nước ASEAN.

Ở trạng thái tự nhiên, trừ Đá Chữ Thập có một tảng đá cao khoảng 1 m nổi lên ở phần đuôi phía Tây Nam, Đá Xu Bi và Đá Vành Khăn là các rạn san hô vòng chìm xuống dưới mặt nước khi triều cao. Như vậy, theo quy định của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế, chỉ có Đá Chữ Thập là đảo đá và có lãnh hải 12 hải lý, còn Đá Xu Bi và Đá Vành Khăn là các bãi cạn lúc chìm lúc nổi, không phải là đối tượng để tuyên bố chủ quyền; và do vậy các cấu trúc xây trên chúng là đảo nhân tạo, chỉ có vùng an toàn hàng hải có chiều rộng 500 m xung quanh nó. Ngoài ra, Đá Chữ Thập thuộc chủ quyền của Việt Nam và ngay cả Việt Nam nếu muốn phòng vệ ở đây thì chỉ có thể phòng vệ trong phạm vi 12 hải lý. Vùng biển nằm ngoài phạm vi nêu trên là vùng biển quốc tế và tàu, thuyền, máy bay của các nước có quyền tự do hàng hải, hàng không. Như vậy, hoàn toàn không có bất cứ cơ sở pháp lý nào để Trung Quốc triển khai tên lửa chống hạm có tầm bắn tới 295 hải lý và tên lửa phòng không có tầm bắn tới 160 hải lý ở 3 thực thể nêu trên.

PGS-TS Vũ Thanh Ca - Ảnh: NVCC

DOC nêu rõ các bên ký kết sẽ tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không; tự chế trong việc thi hành các hoạt động có thể gây phức tạp hoặc leo thang tranh chấp, ảnh hưởng tới hòa bình và ổn định; tăng cường những nỗ lực xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm lẫn nhau. Như vậy, hành động trang bị tên lửa chống hạm và phòng không của Trung Quốc đã đe dọa tự do hàng hải, hàng không, gây phức tạp và leo thang tranh chấp, ảnh hưởng tới hòa bình và ổn định tại biển Đông, làm suy giảm lòng tin giữa các thành viên DOC, và do vậy Trung Quốc đã vi phạm DOC.

Hoạt động triển khai tên lửa trên 3 cấu trúc nhân tạo nêu trên thuộc chủ quyền Việt Nam cũng vi phạm thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, trong đó yêu cầu hiệp thương hữu nghị để giải quyết các vấn đề trên biển, làm cho biển Đông trở thành vùng biển hòa bình, hữu nghị, hợp tác, góp phần duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực; tuân thủ chế độ pháp lý và nguyên tắc được xác định bởi luật pháp quốc tế; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc và tinh thần của DOC .

- Theo đánh giá của ông, việc Trung Quốc bố trí tên lửa ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam thể hiện điều gì? Việc Trung Quốc đẩy mạnh quân sự hóa trên biển Đông (trước đó đã triển khai radar, máy bay quân sự…) ảnh hưởng thế nào tới tình hình khu vực và việc đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử tại biển Đông (COC)?

+ Trung Quốc đã không thừa nhận phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế rằng yêu sách của Trung Quốc về các "quyền lịch sử" nằm trong "đường lưỡi bò" là không có cơ sở pháp lý. Hoạt động triển khai tên lửa của Trung Quốc tại 3 cấu trúc nhân tạo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt nam nêu trên là một bước trong chiến lược vô hiệu hóa phán quyết và chiếm dần biển Đông theo chiến thuật "tằm ăn lá dâu" của Trung Quốc. Nhiều học giả đã nghĩ tới việc đây là một bước để Trung Quốc tiến tới thiết lập vùng nhận dạng phòng không trên biển Đông, một tính toán cực kỳ nguy hiểm cho tất cả các quốc gia trong và ngoài khu vực. Ngoài ra, Trung Quốc cũng muốn gửi một tín hiệu mạnh mẽ cho Mỹ, một quốc gia đang thực hiện các hoạt động tự do hàng hải nhằm duy trì luật pháp quốc tế ở biển Đông.

Việc Trung Quốc đẩy mạnh quân sự hóa trên biển Đông đã làm gia tăng những tranh chấp quân sự giữa các cường quốc, đặc biệt là giữa Mỹ và Trung Quốc và đẩy khu vực tới nguy cơ chiến tranh. Đó cũng là lý do mà một đô đốc Hải quân Mỹ đã nói trước Quốc hội Mỹ rằng chỉ có chiến tranh với Mỹ mới có thể ngăn cản Trung Quốc thống trị biển Đông. Nguy cơ chiến tranh cùng với các bất an về an ninh, an toàn hàng hải, hàng không sẽ có nguy cơ ảnh hưởng toàn diện tới tất cả các nước xung quanh khu vực biển Đông.

Một yếu tố rất quan trọng trong đàm phán là các quốc gia tham gia đàm phán phải có lòng tin vào nhau. Rõ ràng là ngay cả DOC mà Trung Quốc còn vi phạm trắng trợn thì việc xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử tại biển Đông (COC) sẽ cực kỳ khó khăn. Đàm phán COC từ trước tới nay đã cực kỳ khó khăn, nhưng sau động thái này của Trung Quốc chắc chắn sẽ khó khăn hơn.

- Mỹ và một số quốc gia khác có phản ứng ngay sau khi có thông tin Trung Quốc âm thầm triển khai tên lửa tại Trường Sa của Việt Nam, phía Mỹ nói "sẽ có những hệ quả trong ngắn hạn và dài hạn". Ông nhận định như thế nào về các phản ứng tiếp theo của các bên cũng như cộng đồng quốc tế, liệu Trung Quốc sẽ phải chịu những "hệ quả" nào về hành động này?

Hiện nay, Trung Quốc đang nỗ lực xây dựng lòng tin và ảnh hưởng trong khu vực thông qua một loạt sáng kiến như dự án Vành đai và con đường hoặc Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng Châu Á. Kèm theo các sáng kiến này là nguồn tiền đầu tư rất lớn của Trung Quốc. Để duy trì lòng tin và ảnh hưởng, chắc chắn Trung Quốc phải thực hiện những cam kết của mình và tuân thủ luật pháp quốc tế. Hành động quân sự hóa biển Đông sẽ làm hư hại nghiêm trọng những nỗ lực và hình ảnh. Do vậy, ảnh hưởng tới chiến lược vươn lên thành cường quốc toàn cầu của Trung Quốc. Ngoài ra, nó sẽ ảnh hưởng tới các thỏa thuận hiện tại và tương lai của Trung Quốc với các nước khác, đặc biệt là Mỹ. Rõ ràng là Trung Quốc đang phải gánh chịu những hậu quả trước mắt và lâu dài cho hành động của mình.

Cần nhấn mạnh rằng về trình độ khoa học và công nghệ cũng như thực lực quân sự của Trung Quốc còn kém xa Mỹ, và do vậy việc quân sự hóa biển Đông của Trung Quốc sẽ không thể ngăn cản Mỹ thực thi quyền tự do hàng hải, hàng không trên biển Đông phù hợp với luật pháp quốc tế.

NLĐ
Designed byTin không lề |