Tin không lề: Biển Đông

45 năm Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam: Tham vọng chưa dừng lại


Giới chuyên gia quốc tế thực sự lo ngại trước các hành vi của Bắc Kinh ở quần đảo Hoàng Sa lẫn quần đảo Trường Sa cũng của Việt Nam, và xa hơn là cả khu vực Biển Đông. 

Sơ đồ 8 vị trí thuộc Hoàng Sa bị Trung Quốc quân sự hóa phi pháp
ẢNH: CSIS/ĐỒ HỌA: MINH PHƯƠNG

Sau 45 năm kể từ ngày Trung Quốc nổ súng cưỡng chiếm Hoàng Sa, giới chuyên gia quốc tế thực sự lo ngại trước các hành vi của Bắc Kinh ở quần đảo này lẫn quần đảo Trường Sa cũng của Việt Nam, và xa hơn 

Những lo lắng trên được đưa ra khi Thanh Niên phỏng vấn các chuyên gia quốc tế gồm: TS Koh Swee Lean Collin (chuyên gia quân sự của Trường Nghiên cứu quốc tế S.Rajaratnam, Singapore), ông Gregory B.Poling (Giám đốc Chương trình Sáng kiến minh bạch hàng hải - AMTI) thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS, Mỹ), PGS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế - Nhật Bản, Học giả tại Quỹ châu Á - Thái Bình Dương ở Canada) và bà Bonnie Glaser (Giám đốc Chương trình Nghiên cứu sức mạnh Trung Quốc - CSIS).

* Tình hình Biển Đông thay đổi thế nào trong 45 năm qua kể từ khi Trung Quốc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa?

- TS Collin: Bắc Kinh đã chiếm đóng Hoàng Sa để từ đảo Hải Nam vươn vòi kiểm soát về phía nam bao phủ cả khu vực Biển Đông. Cụ thể, nếu xem đảo Hải Nam là trung tâm sức mạnh quân sự thì Hoàng Sa chính là hành lang mở rộng, rồi vươn tiếp đến Trường Sa. Tất cả đã thể hiện rất rõ trong việc Bắc Kinh không ngừng phát triển hạ tầng lẫn sức mạnh quân sự tại các thực thể ở Biển Đông.

Ông Poling: Trung Quốc không chỉ thiết lập quyền kiểm soát trên thực tế đối với Hoàng Sa, mà còn thắt chặt giám sát cả vùng biển lẫn vùng trời xung quanh khu vực này suốt nhiều năm qua. Không khó để nhận ra rằng Bắc Kinh siết chặt kiểm soát, ngăn chặn tàu cá trong khu vực. Chưa dừng lại ở đó, từ Hoàng Sa, Bắc Kinh còn mở rộng kiểm soát sang quần đảo Trường Sa.

PGS Nagy: Trung Quốc đã tiến hành nhiều chiêu thức nhằm thiết lập quyền lực kiểm soát ở Biển Đông. Điều đó có thể nhận ra thông qua hạ tầng, cơ sở mà Bắc Kinh xây dựng, phát triển trên các thực thể tại vùng biển này.

Bà Glaser: Bắc Kinh đã từng bước gia tăng ảnh hưởng và kiểm soát đối với Biển Đông thông qua nhiều hoạt động, đặc biệt là khai thác hải sản cũng như năng lượng. Điều đó khiến căng thẳng ngày càng trầm trọng hơn khi nguồn hải sản dần cạn kiệt cùng với nguy cơ xung đột ngày càng lớn hơn.

* Thời gian qua, Trung Quốc không ngừng quân sự hóa các thực thể ở Hoàng Sa cũng như gây nhiều căng thẳng. Điều đó tác động thế nào đến tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương?

- TS Collin: Việc chiếm đóng của Trung Quốc ở Hoàng Sa chủ yếu nhằm kiểm soát Biển Đông cũng như hướng đến tham vọng kiểm soát tuyến hàng hải quốc tế, mở đường cho lực lượng viễn chinh tiến ra xa, thậm chí “cọ xát” để sẵn sàng đối đầu với lực lượng quốc tế. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng tự cho mình cái quyền tuyên bố vùng biển và vùng trời khu vực Biển Đông là “chủ quyền lịch sử”. Tất cả những điều đó đe dọa nghiêm trọng an ninh và ổn định của khu vực, khi dễ dẫn đến những đụng độ.

Ông Poling: Trung Quốc đang theo đuổi chính sách ép buộc, đe dọa vũ lực nhằm đẩy các nước xung quanh ra khỏi Biển Đông, dẫn đến đe dọa tính ổn định trong khu vực cũng như thách thức các nền tảng luật pháp quốc tế. Đây là một phần trong việc Bắc Kinh đang ra sức hình thành một sức mạnh vươn cả khu vực Đông Á.

PGS Nagy: Những gì Bắc Kinh đạt được trong việc quân sự hóa Hoàng Sa đã làm thay đổi cán cân sức mạnh trong khu vực. Điều đó buộc nhiều quốc gia bên ngoài khu vực cũng phải tăng cường hiện diện ở vùng biển này.

* Trong tình hình như vậy, đâu là rủi ro lớn nhất có thể xảy ra trên Biển Đông?

TS Collin: Đó chính là việc các bên liên quan đụng độ với Trung Quốc trong bối cảnh Bắc Kinh liên tục có nhiều hành vi gây căng thẳng. Nếu không có một cơ chế phối hợp kiểm soát, phòng ngừa thì dễ dẫn đến nguy cơ các cuộc đụng độ biến thành xung đột quy mô lớn. Các cơ chế như Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) chính là nền tảng để kiểm soát rủi ro.

Ông Poling: Rủi ro lớn nhất là việc leo thang bất ngờ do những cuộc đụng độ của lực lượng Trung Quốc với các bên khác. Kèm theo đó còn là rủi ro từ lực lượng “dân quân” biển mà nước này hình thành tại đây.

PGS Nagy: Nguy cơ lớn nhất là Trung Quốc và Mỹ đụng độ nhau tại vùng biển này. Và tất nhiên với những gì đang diễn ra, thì rủi ro đụng độ của các nước trong khu vực ASEAN với Trung Quốc cũng có thể leo thang khó lường.

Bà Glaser: Rất đáng lo về nguy cơ bùng nổ xung đột giữa các bên, và một Bộ quy tắc ứng xử (COC) hiệu quả có thể là cơ chế phòng ngừa phù hợp.

* Đâu là giải pháp phòng ngừa rủi ro cũng như vai trò của cộng đồng quốc tế nói chung, ASEAN nói riêng đối với tình hình Biển Đông?

- TS Collin: Cộng đồng quốc tế cần thúc đẩy lập lại trật tự dựa trên các nền tảng luật pháp quốc tế như Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982. Phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế ở The Hague (PCA) cũng là một nền tảng cần thúc đẩy để đảm bảo các bên liên quan phải tuân thủ. Tiếp theo là các nước trong khu vực cần nâng cao thực lực hàng hải. Thứ ba, các quốc gia bên ngoài khu vực cần nhận ra tầm quan trọng của Biển Đông đối với hàng hải thế giới, nên cần tăng cường hiện diện để đảm bảo sự ổn định.

Ông Poling: Chẳng thể có một giải pháp song phương hiệu quả cho tranh chấp ở Biển Đông. Áp lực mạnh mẽ nhất phải đến từ sự phối hợp của cộng đồng quốc tế, từ ASEAN đến các quốc gia bên ngoài, thậm chí là châu Âu để Bắc Kinh thay đổi hành vi, tuân thủ luật pháp quốc tế.

PGS Nagy: Thực tế thì ASEAN chưa phát huy hiệu quả vai trò, trong khi lẽ ra khối này phải gây sức ép để Bắc Kinh phải tuân thủ phán quyết (của PCA) là bác bỏ tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông.

Tiền lệ nguy hiểm cho thế giới


Cách thức mà Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa thực tế mở đầu một tiền lệ nguy hiểm cho khu vực và thế giới. Từ đó đến nay, Bắc Kinh xem việc sử dụng vũ lực là cách thức phục vụ cho tuyên bố chủ quyền, nên tiếp tục dùng quân sự để chiếm đóng thêm nhiều bãi đá khác ở Trường Sa. Những năm gần đây, Trung Quốc lại không ngừng thiết lập sức mạnh quân sự. Trong khi đó, các nước chưa thực sự gắn kết hiệu quả trước tham vọng của Bắc Kinh. Nếu cộng đồng quốc tế tiếp tục không phản ứng kịp thời thì hậu quả sẽ còn lớn hơn.

TS James Holmes (Đại học Hải chiến Mỹ)

Cần áp lực ngoại giao tổng thể


Trung Quốc không ngừng tăng cường các yêu sách, lợi ích trên Biển Đông. Thông qua các cơ sở, công trình thiết lập trên Biển Đông, Bắc Kinh dễ khiến xảy ra sự cố leo thang căng thẳng. Đây chính là vấn đề khiến Mỹ buộc phải đối đầu với Trung Quốc. Lo lắng càng lớn hơn khi Bắc Kinh bất chấp luật pháp quốc tế. Chính vì thế, lúc này rất cần một áp lực ngoại giao tổng thể của cộng đồng quốc tế.

TS Lê Thu Hường (Viện Chính sách chiến lược Úc)

TNO.

Việt Nam 'cứng rắn bất ngờ' với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông


Tư liệu - Một người lính hải quân Việt Nam đứng gác trên đảo Thuyền Chài, thuộc quần đảo Trường Sa.

Việt Nam đưa ra những yêu sách cứng rắn với Trung Quốc trong cuộc đàm phán về Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC) giữa Asean và Bắc Kinh, Reuters đưa tin.

Theo bản thảo bộ quy tắc đang được đàm phán mà phóng viên Reuters có được, phía Hà Nội muốn đặt ngoài vòng pháp luật nhiều hành động mà Bắc Kinh đang tiến hành trên khu vực Biển Đông trong suốt nhiều năm qua, trong đó bao gồm việc xây dựng các đảo nhân tạo, triển khai các loại vũ khí phong toả biển như hệ thống tên lửa.

Đảo nhân tạo của Trung Quốc xây dựng trên Đá Gạc Ma (Ảnh của CSIS)

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng thúc đẩy những điều khoản nhằm ngăn chặn Trung Quốc thiết lập Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên khu vực Biển Đông, một động thái mà Bắc Kinh đã từng đơn phương thực hiện trên khu vực biển Đông Trung Hoa vào năm 2013.

Cũng theo Reuters, Hà Nội yêu cầu các nước tham gia đàm phán minh định yêu sách của họ về chủ quyền trên biển, tuân thủ luật pháp quốc tế. Động thái này nhiều khả năng nhắm vào “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, vốn bao trùm phần lớn diện tích Biển Đông.

Trả lời phỏng vấn VOA Tiếng Việt, Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp của Viện nghiên cứu Đông Nam Á ISEAS có trụ sở tại Singapore cho rằng những đòi hỏi của Việt Nam khá bất ngờ:

“Ở một mức độ nào đó, các đòi hỏi này có thể là bất ngờ, vì nó thể hiện sự cứng rắn của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông nói chung và trước Trung Quốc nói riêng, trái với chỉ trích của một số người. Trong các yêu cầu của Việt Nam, tôi thấy ấn tượng trước đề nghị cấm thành lập ADIZ ở Biển Đông. Lâu nay các nhà làm chính sách của Việt Nam lo ngại về điều này, và người ta thường nói về việc Việt Nam nên ứng phó ra sao nếu Trung Quốc lập ADIZ ở Biển Đông, mà ít nói tới việc làm sao để ngăn chặn điều đó xảy ra ngay từ đầu. Vì vậy đưa ra đề nghị này là một bước đi khôn ngoan của Việt Nam”.

Tuy vậy, Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp cũng nhấn mạnh rằng, cần thời gian để đánh giá xem Việt Nam có tiếp tục theo đuổi những yêu sách cứng rắn này hay không.

“Cần lưu ý rằng đây mới là lập trường đàm phán ban đầu, và ở giai đoạn này tất cả các bên đều đưa ra phương án cao nhất, với mục tiêu là có thể có sự đánh đổi, hoặc điều chỉnh xuống đến mục tiêu thực sự mà các bên muốn. Vì vậy chúng ta vẫn cần theo dõi xem Việt Nam có thực sự kiên định với những lập trường nay hay không, hay sẽ có những điều chỉnh theo thời gian”.

Đàm phán hứa hẹn “gay cấn”

Về những yêu sách của phía Trung Quốc, tài liệu mà Reuters có được còn xác nhận những thông tin được đưa ra trước đây rằng Trung Quốc muốn ngăn chặn những cuộc tập trận chung giữa các quốc gia trong khu vực với các cường quốc bên ngoài, “cấm cửa” các tập đoàn dầu khí bên ngoài Trung Quốc, và Đông Nam Á, tham gia khai thác tài nguyên trong khu vực biển Đông, trừ khi có sự đồng ý của tất cả các nước tham gia vào COC.

Đây là những yêu sách mà các chuyên gia cho rằng một số thành viên của ASEAN sẽ phản đối kịch liệt.

Từ lâu, Việt Nam đã triển khai những dự án khai thác dầu khí chung với các tập đoàn dầu khí đến từ Nga, Mỹ, Ấn Độ trên khu vực Biển Đông. Tuy nhiên mới đây, trước sức ép từ phía Trung Quốc, dự án khai thác dầu khí tại mỏ Cá Rồng Đỏ giữa Việt Nam và tập đoàn Repsol của Tây Ban Nha đã phải “tạm dừng” vô thời hạn.

Trả lời câu hỏi của Reuters, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam bà Lê Thị Thu Hằng cho biết đàm phán về Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) đã đạt được một số bước tiến trong thời gian gần đây. Việt Nam vẫn đang tích cực cùng các nước khác thể hiện “tinh thần xây dựng và hợp tác”.

“Việt Nam mong muốn các nước liên quan sẽ tiếp tục các nỗ lực của mình, đóng góp tích cực cho quá trình đàm phám nhằm đạt được một Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật biển của Liên Hiệp Quốc năm 1982, góp phần duy trì hoà bình, ổn định, và an ninh trên Biển Đông nói riêng, và trong khu vực nói chung”, bà Lê Thị Thu Hằng nói.

Tuy nhiên, theo Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp, các vòng đàm phán COC tới đây sẽ rất gay cấn:

“Chắc chắn là Trung Quốc sẽ bác bỏ tất cả những đề nghị này của Việt Nam vì chúng trái với mong muốn, ý đồ của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông. Ngược lại, Việt Nam và một số nước cũng sẽ bác bỏ các yêu sách của phía Trung Quốc”.

“Tuy nhiên, nếu các bên thực sự muốn đạt được một bản COC trong tương lai, thì các nước, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc, sẽ có thể có những nhượng bộ nhất định ở những vấn đề không cốt lõi đối với lợi ích của họ”, Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp nói thêm.

Khi được hỏi về những lợi thế mà Việt Nam có thể dùng để “mặc cả” với Trung Quốc, chuyên gia về quan hệ quốc tế đang làm việc tại Singapore này cho biết:

“Tôi nghĩ là không có nhiều, trừ áp lực của Mỹ và các nước đồng minh đối với Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên, đây là vấn đề hai mặt. Có thể vì áp lực mà Trung Quốc sẽ điều chỉnh, nhượng bộ theo hướng mềm mỏng hơn. Nhưng cũng có thể vì chính các áp lực này mà Trung Quốc sẽ "xù lông", sẽ cứng rắn hơn”.

Hồi tháng 8 năm nay, sau 15 năm kể từ ngày kí Tuyên bố Ứng xử Các bên ở Biển Đông (gọi tắt là DOC) tháng 11/2002, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN – Trung Quốc tại Manila (Philippines) đã chính thức thông qua khung của một Bộ Quy tắc Ứng xử (gọi tắt là COC) nhằm điều chỉnh các hành vi, hoạt động tại Biển Đông. Bước đi này được các quan chức Trung Quốc và Đông Nam Á ca ngợi như một dấu mốc quan trọng, một bước đột phá trong việc giảm thiểu những căng thẳng gây ra bởi những tuyên bố chủ quyền chồng lấn trong khu vực.

Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã đặt ra mục tiêu kí kết Bộ quy tắc ứng xử (COC) vào năm 2021. Tuy nhiên theo nhiều chuyên gia, mục tiêu này rất khó để thực hiện.
VOA.

Bắc Kinh phản ứng về ngư lôi có chữ Trung Quốc dạt biển Việt Nam


Ngư lôi Trung Quốc được một ngư dân ở Phú Yên tìm thấy khi đánh bắt cá gần bờ hôm 18/12. (Ảnh chụp màn hình Thanh Niên)

Một ngày sau khi truyền thông Việt Nam đưa tin về một quả ngư lôi có chữ Trung Quốc được tìm thấy gần bờ biển Việt Nam, quốc gia láng giềng lên tiếng rằng họ vừa mất một quả ngư lôi trong một cuộc tập trận gần đây trên Biển Đông.

Hải quân Việt Nam hôm 20/12 xác định “vật thể lạ” được phát hiện tại vùng biển huyện Tuy An của tỉnh Phú Yên là “một ngư lôi diễn tập của hải quân nước ngoài bị trôi dạt vào vùng biển nước ta,” theo Tuổi Trẻ.

Mặc dù ngư lôi có chữ Trung Quốc trên đó nhưng các cơ quan chức năng Việt Nam nói họ chưa thể xác định được nước sản xuất nó.

Hôm 21/12, Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết họ vừa mất một quả ngư lôi trong các cuộc tập trận trên biển gần đây.

Một thông cáo đăng trên trang web của Bộ Quốc phòng TQ nói: “Chúng tôi được biết thông tin về việc ngư dân tỉnh Phú Yên bắt được một quả ngư lôi Trung Quốc.”

Thông cáo cho biết Hải quân Trung Quốc vào đầu tháng 12 đã “tổ chức huấn luyện trên vùng biển gần khu vực phía đông đảo Hải Nam” và một quả ngư lôi đã bị thất lạc trong thời gian này.

“Có khả năng do chịu ảnh hưởng của hải lưu, quả ngư lôi đã trôi về vùng biển gần phía Việt Nam,” thông cáo viết.

Bộ Quốc phòng Trung Quốc khẳng định “đây chỉ là ngư lôi huấn luyện thông thường, không nhắm bất cứ mục đích gì.”

Một ngư dân tên Trần Minh Thanh ở huyện Tuy An hôm 18/12 phát hiện ra ngư lôi có chiều dài 6,8m với đường kính 54cm trong lúc đánh bắt cá gần bờ. Theo truyền thông trong nước, ngư lôi đã được ông Thanh, 40 tuổi, đưa vào khu vực cù lao Mái Nhà, cách bờ biển Phước Đồng ở Tuy An, tỉnh Phú Yên, hơn 1,2 hải lý.

Phú Yên nằm cách quần đảo Hoàng Sa, nơi Việt Nam và Trung Quốc đều có tranh chấp, khoảng 300 dặm. Tỉnh miền Trung này cũng cách đảo Hải Nam, nơi đặt căn cứ hải quân lớn nhất của Trung Quốc, gần 400 dặm.

Trung Quốc tiến hành các cuộc tập trận trên biển và trên không thường xuyên trên và xung quanh các đảo quân sự nhân tạo để khẳng định chủ quyền.

Đây là lần đầu tiên một ngư lôi được phát hiện ở vùng biển huyện Tuy An.

Hơn 1 tháng trước, ngư dân ở Quảng Bình cũng phát hiện một “vật thể lạ” mắc vào lưới khi đánh bắt cá. Sau khi vớt lên, họ đã báo Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Bình và Quân khu 4 vào kiểm tra. Tuy nhiên vật thể này không được xác định là gì nhưng được nghi là thiết bị dò tìm hoặc đo các dữ liệu dưới đáy biển.

Không rõ liệu quả ngư lôi vừa được tìm thấy ở Phú Yên sẽ được trao trả lại cho phía Trung Quốc hay không nhưng hải quân Việt Nam cho biết họ đang “xử lý” thiết bị có thể chứa các giữ liệu tình báo này.

VOA.

Vật thể ở Phú Yên là ngư lôi bắn tập của Trung Quốc


Ảnh: tuoitre.vn

Chuyên gia khẳng định, quả ngư lôi vừa được phát hiện gần bờ biển Phú Yên là ngư lôi bắn tập của Trung Quốc.

Chiều 19/12, theo nguồn tin riêng của Tiền Phong, vật thể được phát hiện ở gần bờ biển Phú Yên được các chuyên gia chuyên nghiên cứu về ngư lôi và thủy lôi của Hải quân Việt Nam cho biết đây là ngư lôi bắn tập cỡ 533mm của Trung Quốc.

Theo một chuyên gia chuyên nghiên cứu về vũ khí ở một đơn vị quân đội khác, đây là loại ngư lôi có tính năng săn ngầm, phạm vi hoạt động từ 40-50km. Chuyên gia này nhận định quả ngư lôi có khả năng bị mất điều khiển hoặc hết nhiên liệu.

Trước đó, vào ngày 18/12, một ngư dân ở Phú Yên đã phát hiện quả ngư lôi này cách bờ biển khoảng 4 hải lý.

Theo báo Tuổi trẻ, vật thể này có hình trụ, dài 6,8m, đường kính khoảng 54cm, phần đuôi có các chong chóng như chân vịt, trên thân có một số chữ Trung Quốc. Sáng 19/12, các lực lượng quân đội, biên phòng, công an đã cùng ngư dân đưa được vật thể lên bờ biển, chờ cơ quan chuyên môn đến xử lý.

Tại sao Việt Nam hủy giao lưu quốc phòng với Mỹ?


Giữa tháng 10 năm 2018, nhà nghiên cứu Việt Nam Carlyle A. Thayer đưa tin rằng Việt Nam đã lặng lẽ hủy bỏ mười lăm hoạt động giao lưu quốc phòng với Hoa Kỳ đã được lên kế hoạch cho năm 2019, bao gồm các trao đổi về lục quân, hải quân và không quân. Nếu xét sự hợp tác chiến lược mạnh mẽ giữa hai nước trong những năm gần đây, bất chấp những bất định mà chính quyền Trump tạo ra, thì quyết định của Việt Nam đã khiến nhiều người băn khoăn. Vậy điều gì có thể lý giải cho sự thay đổi thái độ đột ngột này của Việt Nam?




Quyết định này có thể liên quan đến những nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm vận động Việt Nam giảm mua thiết bị quân sự và vũ khí của Nga và chuyển sang mua từ Mỹ. Việt Nam có thể đã xem động thái này như là một sự can thiệp vào công việc nội bộ của mình. Lý do này hoàn toàn có cơ sở bởi Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật chống lại các đối thủ của Mỹ thông qua trừng phạt (CAATSA) nhằm trừng phạt các quốc gia mua sắm vũ khí và thiết bị quân sự từ Nga. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Jim Mattis đã tìm cách thuyết phục Quốc hội miễn áp dụng luật này đối với Việt Nam, vốn đã nhập tới 90% số vũ khí và thiết bị quân sự từ Nga. Tuy nhiên vẫn chưa có quyết định cuối cùng nào được đưa ra. Do đó, Việt Nam có thể đã hủy các giao lưu quốc phòng dự kiến với Mỹ như một chiến thuật đàm phán để đảm bảo rằng Washington sẽ không áp dụng đạo luật này đối với Việt Nam.


Đồng thời, quyết định này cũng có thể là một trong những phản ứng của Hà Nội đối với sự cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Khi cuộc đối đầu giữa hai người khổng lồ ngày càng trở nên rõ ràng hơn, Hà Nội có thể thấy nhận thấy khó có thể củng cố quan hệ quốc phòng với một cường quốc này mà không làm cho cường quốc kia phật lòng. Đối mặt với rủi ro này, Hà Nội có thể đã chọn trì hoãn hợp tác quốc phòng với Mỹ, ít nhất là tạm thời, để không làm Bắc Kinh phật ý.


Cuối cùng, tình hình tương đối tĩnh lặng hơn ở Biển Đông trong những tháng gần đây và các động thái ngoại giao của Bắc Kinh, như việc nêu mục tiêu đạt được thỏa thuận với các nước ASEAN về Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông trong vòng ba năm tới, có thể là một yếu tố khác khuyến khích Hà Nội làm chậm lại việc tăng cường quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ. Suy cho cùng, miễn là lợi ích quốc gia của Việt Nam ở Biển Đông được đảm bảo, Hà Nội sẽ không muốn từ bỏ chính sách lâu nay trong việc duy trì sự cân bằng giữa Bắc Kinh và Washington. Nói cách khác, nếu Trung Quốc chấp nhận một lập trường mang tính thỏa hiệp hơn đối với tranh chấp Biển Đông, Hà Nội sẽ không sẵn sàng xích lại quá gần Hoa Kỳ.


Quyết định của Hà Nội sẽ tác động tới triển vọng hợp tác chiến lược giữa Mỹ và Việt Nam tới đâu vẫn là một điều chưa rõ ràng. Liệu Việt Nam có đảo ngược quyết định trên và tiếp tục đẩy mạnh quan hệ quốc phòng với Mỹ hay không sẽ phụ thuộc vào chính các yếu tố có thể đã làm chậm lại quá trình đó: a) liệu Hoa Kỳ có miễn áp dụng Đạo luật CAATSA đối với Việt Nam hay không; b) xu hướng tương lai của cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung, và c) liệu Trung Quốc có hung hăng trở lại trên Biển Đông hay không.


Trong khi câu hỏi đầu tiên là một câu hỏi ngắn hạn có thể sớm được trả lời thì hai câu hỏi còn lại có nhiều sự bất định hơn. Trong trường hợp Washington đồng ý miễn áp dụng Đạo luật CAATSA cho Việt Nam nhưng Hà Nội vẫn tiếp tục hủy bỏ hoặc trì hoãn các hoạt động hợp tác quân sự có ý nghĩa với Hoa Kỳ thì chúng ta có thể kết luận rằng lý do chính khiến Việt Nam không muốn tăng cường hợp tác quốc phòng với Washington là vì sợ làm phật lòng Bắc Kinh. Trong trường hợp đó, do cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc rất có thể sẽ tiếp tục tồn tại lâu dài, các hành động của Trung Quốc trên Biển Đông có thể trở thành yếu tố quan trọng nhất quyết định quỹ đạo tương lai của quan hệ hợp tác quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ.


Nguồn: Lê Hồng Hiệp - NCQT.

SOUTH CHINA SEA - ỒN ÀO KHÔNG ĐÁNG



Thật bất ngờ khi thấy mọi người đột nhiên phê phán Hội thảo Biển Đông năm nay dùng chữ “South China Sea” trong phần dịch tên hội thảo sang tiếng Anh. Bất ngờ vì chuyện này tưởng đã cũ, chẳng có gì phân vân. Hội thảo Biển Đông cũng đã được Học viện Ngoại giao tổ chức chức lần thứ 10, chứ chẳng phải mới và được giới nghiên cứu quốc tế chú ý.

Nói cụm từ “South China Sea”, nhiều người cho rằng đây là tên Trung Quốc gọi Biển Đông. Nói thế là không chính xác. Trung Quốc gọi Biển Đông là “South Sea” và chính xác là “Nan Hai” tức Nam Hải. Còn “South China Sea” là tên quốc tế.

Cần hiểu rằng tên quốc tế này chỉ có ý nghĩa chỉ dẫn địa lý là vùng biển phía nam Trung Quốc, được đặt từ rất lâu và quốc tế gọi thế. Ý nghĩa địa lý này chưa bao giờ được đánh đồng với ý nghĩa sở hữu là “biển của Trung Quốc”. Ví dụ: Ấn Độ Dương nhưng chẳng ai nói đó là vùng biển của Ấn Độ. Hay vùng biển phía tây VN thì VN vẫn gọi là Vịnh Thái Lan nhưng có ai nói đó là biển của mỗi Thái Lan đâu.

Bản thân Trung Quốc cũng chẳng muốn gọi tên này, mỗi khi ra quốc tế, chuyên gia của họ thường cố cài cắm gọi là “South Sea” hoặc “Nan Hai”. Chính vì thế, việc Học viện Ngoại giao sử dụng dụng cụm “South China Sea” để dịch sang Biển Đông là đúng thông lệ quốc tế.

Từ vài năm trước, có một số người đòi đổi tên Biển Đông là East Sea như Philippines gọi Biển Đông là “West Philippine Sea”, nhưng cái đó là nói cho vui chứ khó có chuyện quốc tế đồng ý nếu các nước liên quan không thống nhất. Mà thực lòng rằng nếu VN gọi Biển Đông, Philippines gọi Biển Tây và ông nào cũng đòi quốc tế gọi theo cách của mình thì chắc chẳng thế giới nào chịu thấu.

Cũng cần hiểu rằng, bản thân VN tuyên bố chủ quyền là tuyên bố cụ thể về các thực thể, chứ chẳng phải bảo cả vùng biển này là của VN. Nên nếu lấy theo tên do VN đề ra cho toàn bộ vùng biển thì chắc thế giới cũng chẳng đồng ý.

Trước đây, có người đề xuất tên vùng biển này là “Biển Đông Nam Á” và đề xuất đã được nhiều chuyên gia cho là hợp lý. Nhưng đến nay, các tổ chức quốc tế vẫn chưa có động thái rõ ràng nào cho việc đổi tên.

Và khi quốc tế vẫn gọi đó là South China Sea thì các bên khi ra quốc tế cũng phải gọi tên này, kiểu như luật pháp chưa thay đổi thì người dân phải tuân thủ (cần nhắc lại là “South China Sea” không hề đồng nghĩa với việc quốc tế xem đây là vùng biển của Trung Quốc).

Tôi từng trao đổi với nhiều chuyên gia từ Philippines, chẳng tay nào dám mở miệng nói là “West Philippine Sea”, vì nói thế thì là dân Philippines tự nói với nhau. Trung Quốc dù rất muốn gọi là “Nan Hai” hay “South Sea” nhưng ra quốc tế thì vẫn phải đầy đủ “South China Sea”.

Dẫn chuyện tương tự là chính khách hay chuyên gia Nhật Bản khi nói chuyện với quốc tế vẫn gọi vùng biển Hoa Đông mà họ đang tranh chấp với Trung Quốc là “East China Sea”, nhưng vẫn đấu tranh thậm chí tạm kiểm soát quần đảo Điếu Ngư/Senkaku nằm trên vùng biển này.

Cùng về tên gọi, nếu theo đòi hỏi phải dịch như tiếng Việt thì Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) phải dịch là “Golden Sandbank”. Thế thì rất buồn cười, vì thế giới đã có sẵn tên quốc tế là Paracel. Không phải cái gì khi dịch cũng “word by word”, tiếng Việt sao là phải chăm chăm từng từ dịch ra tiếng Anh.

Bên cạnh đó, vì mục đích xa hơi là hội thảo nhằm thu hút rộng rãi chuyên gia quốc tế, bao hàm cả chuyên gia Trung Quốc. Vì nếu VN tự tổ chức hội thảo, tự nói với nhau thì ích lợi gì, phải có thế giới tham gia, phải có Trung Quốc để họ nghe mà hiểu quan điểm của VN và thế giới. Muốn thế, nếu chúng ta gọi là East Sea khi các tổ chức quốc tế vẫn gọi là “South China Sea” thì làm sao thu hút đông đảo sự quan tâm của thế giới.

Chốt lại: chẳng có gì đáng ồn ào và chẳng có gì gọi là “thua ngay trên sân nhà” trong việc dịch “Biển Đông” sang tiếng Anh thành “South China Sea”.

(Tri M. Ngo)

Giải pháp nào cho tranh chấp Biển Đông?


Tiền đồn do Trung Quốc xây dung ở quần đảo Trường Sa

Đàm phán giữa các bên liên quan theo luật pháp quốc tế hay tham khảo kinh nghiệm nhờ trọng tài phán xử từ các tranh chấp chủ quyền khác trên thế giới là những giải pháp giúp giải quyết tranh chấp trên Biển Đông một cách hòa bình phù hợp với nguyện vọng của tất cả các bên, theo các ý kiến đưa ra tại một hội thảo mới đây tại Mỹ.

Các học giả quốc tế đã đưa ra những đề xuất và so sánh vừa kể tại phiên thảo luận về giải quyết tranh chấp tại Hội thảo thường niên về Biển Đông lần thứ 8 do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) tổ chức vào cuối tháng Bảy vừa qua ở Washington.

‘Kiên trì đàm phán’


Ít nhất đó cũng là lập trường của Việt Nam, theo như trình bày của ông Đỗ Thanh Hải đến từ Học viện Ngoại giao Việt Nam.

Theo ông Hải, để có giải pháp chung cuộc đối với tranh chấp trên Biển Đông thì Hà Nội sẽ theo đuổi con đường ‘kiên trì đàm phán’ với các bên có tranh chấp như Trung Quốc, Philippines và Malaysia.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, Hà Nội không gạt sang một bên biện pháp pháp lý giống như Manila đã từng kiện Bắc Kinh ra Tòa trọng tài thường trực (PCA) hồi năm 2014. Ông Hải cho biết Hà Nội ủng hộ vụ kiện của Manila và bảo lưu quyền của mình sử dụng biện pháp pháp lý tương tự.

Về khả năng đàm phán, ông Hải chỉ ra kinh nghiệm của Hà Nội trong việc đàm phán các vấn đề nhạy cảm và khó khăn trên các hồ sơ phân định biên giới trên bộ với Lào, Campuchia và trên biển với Thái Lan, Indonesia. Riêng với Trung Quốc, Việt Nam đã hoàn thành việc phân giới cắm mốc biên giới trên bộ và phân định Vịnh Bắc Bộ. Tất cả các hồ sơ tranh chấp này của Việt Nam đều được giải quyết trong hòa bình.

Do đó, ông Hải cho rằng Hà Nội ‘là nước đi đầu trong khu vực’ trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Theo đó, Hà Nội theo đuổi giải pháp ‘công bằng, lâu dài và chấp nhận được’ và xem đó là con đường để đảm bảo hòa bình và an ninh trong khu vực.

Trong khi chờ đợi có được giải pháp lâu dài đó, Việt Nam cũng sẵn sàng chấp nhận những giải pháp tạm thời nhưng ‘thỏa đáng’, ông Hải nói và nhấn mạnh nguyên tắc ‘thỏa đáng’.

Giải pháp tạm thời này bao gồm hợp tác trên những vấn đề không nhạy cảm như tìm kiếm, cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và bảo vệ môi trường và hợp tác cùng khai thác.

Riêng trên vấn đề hợp tác cùng khai thác (dầu khí) mà Bắc Kinh lâu nay vẫn vận động các nước thực hiện theo nguyên tắc của họ là ‘gạt bỏ tranh chấp, hợp tác cùng khai thác, chủ quyền thuộc về chúng ta (Trung Quốc)’, ông Hải nhấn mạnh rằng Việt Nam không hợp tác cùng khai thác ở những vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam mà chỉ ở những vùng biển có chủ quyền chồng lấn. Ngoài ra, Hà Nội chỉ hợp tác cùng khai thác sau khi dùng luật pháp quốc tế xác định rõ ràng vùng biển nào có chủ quyền chồng lấn.

Nguyên tắc cơ bản của Việt Nam khi theo đuổi con đường đàm phán cũng như giải pháp tạm thời, theo ông Hải, là bám theo luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Quốc tế về Luật Biển UNCLOS 1982, còn những yếu tố khác chỉ mang tính bổ sung và chỉ có giá trị tham vấn. Điều này trái với lập trường của Trung Quốc là ‘chủ quyền lịch sử’ đối với Biển Đông vốn không có căn cứ trên luật pháp quốc tế.

Ngoài ra, ông Hải cho rằng để đàm phán thành công thì các bên cần phải ‘kiên trì’, ‘kiềm chế’, ‘có thiện chí’ và ‘có lòng tin’. Các bên cần phải tôn trọng quyền lợi chính đáng của nhau cũng như kiểm soát tình cảm dân tộc cực đoan, kích động hận thù, bài ngoại của người dân trong nước vốn gây cản trở cho quá trình đàm phán.

“Chúng ta đã thấy tinh thần dân tộc (cực đoan) tai hại như thế nào đối với mỗi nước trong quá trình tìm cách giải quyết tranh chấp,” ông Hải nói.

Tuy nhiên, ông Hải cũng chỉ ra những trở ngại đối với việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông một cách hòa bình: thiếu trách nhiệm và thiếu thiện chí, mưu cầu bá quyền thông qua việc quân sự hóa để tạo ‘sự đã rồi’, khăng khăng đòi hợp tác cùng khai thác không đúng nơi, không đúng trình tự (trước khi có phân định biên giới rõ ràng) và tuyên bố chủ quyền phi pháp (đường chín đoạn và đòi hỏi vùng biển tối đa cho những thực thể không đủ điều kiện theo luật quốc tế).

“Giải pháp cho tranh chấp trên Biển Đông là có thể,” ông Hải nói. “Chúng ta cần phải nghiêm túc xem xét ngay bây giờ và làm càng sớm càng tốt.”

Để đàm phán thành công, ông Hải nói Việt Nam ‘ủng hộ mạnh mẽ’ vai trò của khối ASEAN trong việc tạo ra môi trường thuận lợi cho đàm phán.

“Cần nhượng bộ”


Trao đổi với VOA bên lề hội thảo, ông Bill Hayton, cựu nhà báo của BBC và hiện đang là học giả của Viện Chatham House ở London, Anh quốc, cũng cho rằng đàm phán để giải quyết tranh chấp là con đường ‘không phải là không khả dĩ’.

Để đàm phán thành công, ông Hayton cho rằng các bên tranh chấp cần phải có nhượng bộ về chủ quyền. Đơn cử như trường hợp của Việt Nam, ông Hayton nói rằng nước này ‘không thể cứ khăng khăng cho mình là nước có chủ quyền hợp pháp với các bãi đá và bãi cạn trên Biển Đông’.

Việt Nam và Philippines hiện có tranh chấp chủ quyền với một số thực thể thuộc quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, Hà Nội không có giọng điệu gay gắt với Manila về các tranh chấp này và trên thực tế hai nước đã có những hành động phối hợp với nhau để cùng đối phó với Trung Quốc.

Ông Hayton cho rằng Việt Nam cần phải thỏa thuận với Philippines rằng họ có công nhận chủ quyền của nhau đối với các hòn đảo mà mỗi bên hiện đang nắm giữ hay không. Một khi đã nhượng bộ nhau về đảo thì từ đó các nước sẽ căn cứ vào UNCLOS để phân định sở hữu đối với vùng biển liên quan và các tài nguyên trong đó. Sau đó, hai nước sẽ tiến tới có hành động tương tự với Malaysia và Brunei.

Một khi các nước đông nam Á đã đưa ra lập trường nhượng bộ lẫn nhau, họ có thể thống nhất lập trường trước Trung Quốc và kêu gọi Trung Quốc cùng có sự nhượng bộ như vậy. Tuy nhiên ông thừa nhận rằng ‘không dễ để Bắc Kinh đưa ra nhượng bộ’.

“Tuy nhiên Bắc Kinh không có đủ bằng chứng lịch sử để chứng minh rằng họ đã từng chiếm hữu những thực thể khác ngoài những gì mà họ hiện đang chiếm hữu,” ông Hayton nói và cho biết sự yếu thế về mặt pháp lý này sẽ khiến Bắc Kinh cần nhượng bộ.

Trong phần trình bày của mình tại hội thảo, ông Hayton cũng nêu ra một nguyên tắc giải quyết tranh chấp chủ quyền theo luật pháp quốc tế mà tiếng Latin gọi là ‘Uti possidetis’, tức là anh có quyền sở hữu bất cứ những gì mà hiện anh đang chiếm hữu và phải giữ nguyên hiện trạng không chiếm đoạt thêm.

Cũng trong phần trình bày này, ông Hayton mỉa mai điều mà Bắc Kinh cho là ‘chủ quyền không thể tranh cãi’ của họ đối với quần đảo Trường Sa. Ông đã đưa ra một bằng chứng là một tài liệu chính thức do Bộ Thông tin của Trung Hoa Dân quốc (tức Đài Loan sau này, vốn trước năm 1949 vẫn còn kiểm soát Trung Hoa đại lục) xuất bản vào năm 1943. Tài liệu này cho thấy tuyên bố chủ quyền của họ trên Biển Đông xa nhất chỉ tới quần đảo Hoàng Sa mà thôi. Tới lần xuất bản thứ hai vào năm 1947 thì Chính phủ Trung Hoa Dân quốc mới bổ sung thêm vào quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa).

“Do đó cái gọi là chủ quyền không thể chối cãi có từ thời xa xưa không thể nhớ nổi đối với Quần đảo Trường Sa là nói bậy,” ông Hayton nói. “Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với Trường Sa còn ít tuổi hơn tuổi của bố mẹ tôi nữa.”

Về phần mình, ông Trương Phong, một học giả Trung Quốc hiện đang giảng dạy tại Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Quốc gia Australia, cũng bày tỏ lòng tin vào biện pháp hòa đàm.

Trao đổi với VOA bên lề hội thảo, ông Trương cho biết Bắc Kinh đã tỏ thái độ vui lòng đàm phán với các bên tranh chấp ‘một cách song phương’.

“Vấn đề hiện giờ là thời cơ (để đàm phán),” ông Trương nói, “Thời cơ hiện nay là của COC (Bộ Quy tắc ứng xử).” Tại một hội nghị ngoại trưởng mới đây của Asean với Trung Quốc tại Singapore, các bên tuyên bố đã xác định được những nguyên tắc cơ bản của COC.

Trả lời câu hỏi của VOA rằng liệu Trung Quốc có xem Biển Đông là ‘lợi ích cốt lõi’ của họ không – tức là họ không thể có bất kỳ nhượng bộ nào và sẵn sàng dùng mọi biện pháp, kể cả quân sự, để bảo vệ lợi ích đó – ông Trương cho rằng việc xác định lợi ích cốt lõi ở Biển Đông ‘sẽ không có ích gì’ đối với giải quyết tranh chấp cũng như hòa bình và an ninh khu vực và các học giả Trung Quốc đến nay vẫn còn tranh cãi về vấn đề này.

“Trung Quốc đến nay vẫn không tuyên bố công khai liệu Biển Đông có phải hay không phải là lợi ích cốt lõi,” ông Trương cho biết và nói thêm Bắc Kinh vẫn duy trì ‘sự mơ hồ’ này và ‘khó mà dự đoán liệu họ sẽ thay đổi quan niệm như thế nào trong tương lai’.

Đáp câu hỏi của VOA rằng liệu Bắc Kinh có sử dụng vũ lực để thu hồi những lãnh thổ mà họ cho là của họ để hoàn thành mục tiêu thống nhất đất nước trước thời điểm năm 2049, thời điểm mà Chủ tịch Tập Cận Bình đã xác định là cột mốc để hướng đến xây dựng một nước Trung Quốc hiện đại và hùng cường, ông Trương Phong nói rằng ông ‘hy vọng là không’ vì lợi ích của hòa bình và ổn định trong khu vực. Tuy nhiên, ông cũng nói rằng thời điểm đó vẫn còn xa nên khó mà dự đoán.

Trong phần trình bày của mình, ông cũng nêu ra một dấu hiệu cho thấy Bắc Kinh có thể sẽ chịu đàm phán giải quyết tranh chấp ở quần đảo Trường Sa. Đó là, đến nay Bắc Kinh vẫn chưa tuyên bố đường cơ sở của các thực thể mà họ chiếm đóng ở Trường Sa để từ đó xác định chủ quyền với các vùng nước có liên quan. Trong khi đó, ở Hoàng Sa, từ lâu Bắc Kinh đã vẽ đường cơ sở và tuyên bố họ không chấp nhận đàm phán về Hoàng Sa vì ‘không có gì tranh chấp’ ở quần đảo này.

Phán quyết của trọng tài


Cũng tại hội thảo, một số học giả đã đề cập đến các vụ tranh chấp chủ quyền lãnh hải và tài nguyên ở những nơi khác trên thế giới vốn được giải quyết nhờ vào phán quyết của Tòa án Quốc tế cũng như sự hỗ trợ của cơ quan trọng tài để rút ra bài học kinh nghiệm cho Biển Đông.

Giáo sư Bec Strating thuộc Đại học La Trobe, Úc, nêu ra tranh chấp chủ quyền lãnh hải trên Biển Timor cũng như tranh chấp dầu khí thuộc mỏ Greater Sunrise thuộc vùng biển này giữa Úc và Timor Leste.

Cũng như Trung Quốc trên Biển Đông, Canberra luôn từ chối tham gia vào bất cứ vụ kiện nào mà Dili kiện ra Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) về tranh chấp trên Biển Timor, bà Strating cho biết. Tuy nhiên, Úc không thể bác bỏ việc hòa giải bắt buộc theo cơ chế giải quyết tranh chấp theo Phụ lục 5 của UNCLOS.

Theo yêu cầu của Timor Leste thì vào tháng Tư năm 2016 một ủy ban hòa giải của Liên Hiệp Quốc gồm năm chuyên gia được thành lập để xem xét tranh chấp và đưa ra những khuyến nghị (không mang tính ràng buộc đối với các bên) trong khoảng thời gian một năm.

Ngay từ đầu, Úc đã thách thức thẩm quyền của ủy ban hòa giải này nhưng sau khi bị bác bỏ, Canberra đã phải cùng ngồi vào bàn với Timor Leste. Sau một số hành động xây dựng lòng tin thì đến tháng 7 năm 2017 hai nước đã đạt được đột phá. Theo đó, Timor Leste được chia đến từ 70% cho đến 80% thu nhập từ mỏ dầu Greater Sunrise vốn ước tính có trị giá lên đến 40 tỷ đô la. Điều này được cho là chiến thắng đối với Timor Leste.

Theo bà Strating, sở dĩ Timor Leste có được thắng lợi này bất chấp họ là một nước nhỏ hơn Úc rất nhiều là vì nước Úc lúc đó cần thấy họ phải thể hiện quan điểm ủng hộ mạnh mẽ trật tự quốc tế dựa trên luật pháp trong bối cảnh có tranh chấp trên Biển Đông.

Tuy nhiên, bà Strating cũng tỏ vẻ nghi ngờ liệu cơ chế tương tự sẽ giúp giải quyết tranh chấp trên Biển Đông vì tranh chấp trên Biển Đông phức tạp hơn nhiều với sự tham gia của nhiều nước, không chỉ về dầu khí mà còn về chủ quyền đối với các đảo, bãi đá bên cạnh việc quân sự hóa của Trung Quốc. Một vấn đề thêm nữa là Bắc Kinh không có động lực ủng hộ trật tự dựa trên luật pháp như Canberra.

Thiếu tướng Hải quân Lalit Kapur, chuyên gia nghiên cứu cao cấp của Delhi Policy Group, đem đến kinh nghiệm giải quyết tranh chấp giữa Ấn Độ và Bangladesh vốn dựa vào phán quyết của Tòa án quốc tế. Hai nước đã có tranh chấp về đường phân giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế EEZ và thềm lục địa trên Vịnh Bengal.

Phán quyết của Tòa án PCA, mà cả hai nước đều chấp nhận và thực thi, đã giúp dọn đường cho hai nước tăng cường hợp tác kinh tế và đạt được lợi ích trên nhiều lĩnh vực, ông Kapur cho biết.

Tuy nhiên, ông Kapur cho rằng bối cảnh trên Biển Đông khó khăn hơn vì sự thiếu lòng tin nghiêm trọng giữa các bên trong khi Trung Quốc không chấp nhận các kênh đàm phán đa phương cũng như cơ chế pháp lý để giải quyết tranh chấp.

Ngoài ra, hai nước Ấn Độ và Bangladesh không dùng con bài dân tộc chủ nghĩa để kích động tình cảm dân tộc cực đoan trong nước trên vấn đề chủ quyền lãnh thổ vốn rất nhạy cảm. Hơn nữa, Ấn Độ cũng không dùng lợi thế nước lớn trước Bangladesh để đòi hỏi về chủ quyền lãnh thổ.

Ông Trần Dĩ Tín, chuyên gia nghiên cứu đến từ Viện Nghiêu Mỹ-Đài Loan, nói rằng bất kỳ các cuộc đàm phán nào về Biển Đông cũng không thể loại trừ vai trò của Đài Loan và Đài Bắc sẽ không công nhận bất kỳ giải pháp đàm phán nào mà không có sự tham gia của họ.

Ông Trần nhắc lại lập trường của Đài Loan là là toàn bộ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng vùng biển xung quanh là ‘thuộc chủ quyền của Cộng hòa Trung Hoa (tức Đài Loan)’.

VOA.

Trung Quốc ngầm cảnh báo Việt Nam?


Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị gặp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hà Nội, ngày 2/4/2018.

Nhà ngoại giao hàng đầu Trung Quốc được cho là đã "bày tỏ hy vọng" với quan chức Việt Nam rằng Hà Nội sẽ “xử sự khôn ngoan hơn” khi giải quyết các vấn đề liên quan tới lãnh hải.

Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Vương Nghị mới gặp Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh bên lề một sự kiện ngoại giao liên quan tới Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ở Singapore.

Theo quan sát của phóng viên VOA tiếng Việt, trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc sau đó đã đăng tuyên bố, trong đó ông Vương được trích lời đã nói với ông Minh rằng hai người “đã gặp nhau trước đó không lâu ở Hà Nội” (hồi tháng Tư), và “đã trao đổi sâu về việc thực thi các kết quả quan trọng đạt được trong chuyến thăm của Tổng bí thư và Chủ tịch Tập Cận Bình tới Việt Nam”.

“Chúng tôi sẵn sàng cùng với phía Việt Nam nỗ lực liên tục làm sâu sắc mối quan hệ song phương trong nhiều lĩnh vực và đồng thời có các nỗ lực tích cực để thúc đẩy ổn định và hòa bình khu vực”, tuyên bố về cuộc gặp hôm 3/8 giữa hai nhà ngoại giao Việt Nam và Trung Quốc có đoạn.

“Các lãnh đạo hàng đầu của hai bên đã đạt được sự đồng thuận chính trị quan trọng nhằm giải quyết hợp lý các vấn đề hàng hải mà cần phải được Trung Quốc và Việt Nam thực thi một cách nghiêm túc”.

Quan chức ngoại giao hàng đầu của nước láng giềng khổng lồ phương bắc còn được trích lời “bày tỏ hy vọng rằng phía Việt Nam sẽ xử lý cũng như kiểm soát các vấn đề liên quan tới biển bằng cách xử sự khôn ngoan hơn nhằm duy trì một cách hiệu quả lòng tin và hợp tác giữa hai nước”.

Hiện chưa rõ “cách xử sự khôn ngoan hơn” mà Trung Quốc muốn chứng kiến từ phía Việt Nam cụ thể là gì.

Hồi cuối tháng Năm, trong một tuyên bố được coi thuộc loại mạnh mẽ nhất trong nhiều năm nay, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã “yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay” việc cho máy bay ném bom diễn tập trên quần đảo Hoàng Sa, đồng thời “không được tiến hành quân sự hóa; nghiêm túc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa; tuân thủ nghiêm túc Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc, Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) giữa ASEAN và Trung Quốc tạo bầu không khí thuận lợi cho việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực”.

Trong cuộc gặp với ông Vương hôm 3/8, theo thông báo trên trang web của Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Minh đã “đánh giá cao những tiến triển trong quan hệ hai nước thời gian qua; đề nghị Trung Quốc tích cực áp dụng các biện pháp hiệu quả duy trì tăng trưởng thương mại đi đôi với giảm nhập siêu của Việt Nam”.

Liên quan tới vấn đề Biển Đông, ông Minh “nêu rõ cần kiên trì giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), thực hiện nghiêm túc nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước; kiểm soát tốt bất đồng, không có hành động làm phức tạp tình hình, mở rộng tranh chấp; thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC, sớm đạt được COC [Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông] hiệu quả, thực chất và ràng buộc”.

Hôm 4/8, cũng tại Singapore, ông Vương lên tiếng bảo vệ quyết định quân sự hóa Biển Đông của Bắc Kinh, gọi đó là hành động “tự vệ” trước áp lực từ Hoa Kỳ và các nước khác.

Đề cập tới các hàng không mẫu hạm, máy bay ném bom chiến lược và các loại vũ khí tối tân khác, nhà ngoại giao giao hàng đầu Trung Quốc nói rằng các nước trong khu vực, trong đó có Trung Quốc, phải “thiết lập các cơ sở phòng thủ” để “tự vệ” khi “đối mặt với áp lực và mối đe dọa quân sự đang ngày càng gia tăng như vậy”.

Cũng tại Singapore, lần này, theo các nhà quan sát, Trung Quốc đã có bước đi quyết định nhằm thu phục lòng tin của các nước Đông Nam Á bằng cách đồng ý về dự thảo đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông, và đề nghị cùng các nước thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á lần đầu tiên diễn tập quân sự chung, các nhà phân tích nhận định.

Bộ trưởng Vương Nghị được Tân Hoa Xã dẫn lời nói rằng bước đi trên “chứng tỏ rằng Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN có khả năng duy trì hòa bình và ổn định”.

VOA.

Tàu cá Quảng Ngãi bị tàu lạ đâm chìm trên biển


Một tàu cá của Quảng Ngãi với 7 thuyền viên bất ngờ bị tàu lạ đâm chìm ở khu vực quần đảo Hoàng Sa. 


Khoảng 10h sáng 7/8, Đài thông tin Duyên hải Đà Nẵng nhận được thông báo từ tàu QNg 90693 TS. Thuyền viên trên tàu này cho hay họ nhận được tin của tàu cá số hiệu QNg 90546 TS cách đó 11 hải lý bị tàu lạ đâm chìm trong khu vực quần đảo Hoàng Sa, trên tàu có 7 thuyền viên. 

Sau khi nhận được tin, tàu QNg 90693 TS lên đường đến hỗ trợ tàu bị nạn. Hiện toàn bộ 7 thuyền viên đã được cứu vớt an toàn, sức khỏe bình thường; tàu QNg 90546 TS chìm xuống biển.

Sáng cùng ngày, Đài thông tin Duyên hải Vũng Tàu nhận được thông tin tàu BV 5631 TS đang bị chìm nửa tàu, vị trí cách Vũng Tàu khoảng 35 hải lý về phía Đông Nam. Nguyên nhân do tàu bị sóng đánh khiến nước tràn vào. Trên tàu đang có 22 thuyền viên. 

Đài duyên hải đã chuyển thông tin đến tàu Thanh Toàn đang đánh bắt gần đó để kịp thời ứng cứu. Hiện tàu SAR của Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt Nam đã đến lai dắt tàu, đưa ngư dân về cảng. 

Trưa 7/8, Đài thông tin Duyên hải Phan Thiết tiếp nhận được yêu cầu trợ giúp khẩn cấp từ tàu BĐ 96475 TS. Tàu này đang hoạt động tại vị trí cách Quy Nhơn khoảng 170 hải lý về phía Đông thì bị nước tràn vào gây chìm. Trên tàu có 2 thuyền viên. Đài duyên hải đã thông báo đến các tàu cá hoạt động gần đó ứng cứu.

VNE.

Một Đề Án Chi Tiết cho Hợp Tác Sản Xuất Dầu Khí ở Biển Đông


Đây là sản phẩm thứ hai của Nhóm công tác chuyên gia CSIS về Biển Đông (CSIS Expert Working Group on the South China Sea), nhằm tìm kiếm một mô hình khả thi đối với các bên yêu sách để quản lý tranh chấp hàng hải. Nhóm gồm những chuyên gia trong các lãnh vực quan hệ quốc tế, luật biển và môi trường biển đến từ nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Singapore, Úc, và các quốc gia có yêu sách trực tiếp ở Biển Đông là Trung Quốc, Philippines, Đài Loan và Việt Nam. Dự án Đại Sự Ký Biển Đông thực hiện và xin giới thiệu bản dịch tiếng Việt để hỗ trợ cho việc tiếp cận và thảo luận về đề án này một cách dễ dàng hơn trong cộng đồng quan tâm đến vấn đề Biển Đông. 

Sự cạnh tranh cho các nguồn tài nguyên dầu và khí đã nhiều lần gây ra bế tắc giữa các bên yêu sách ở Biển Đông trong những năm gần đây, đặc biệt là giữa Trung Quốc, Philippines và Việt Nam. Nỗ lực nghiêm túc cuối cùng để hợp tác trên mặt trận này là việc thực hiện Thỏa thuận ba bên về khảo sát địa chấn biển chung từ năm 2005 đến năm 2008, được phép chấm dứt hiệu lực trong bối cảnh tranh cãi chính trị và các câu hỏi về tính hợp hiến của nó ở Philippines. Kể từ cuối năm 2016, chính phủ Philippines và Trung Quốc đã thảo luận khai thác chung nguồn hydrocarbon ở Bãi Cỏ Rong, nhưng đã có rất ít tiến bộ rõ ràng mặc dù tuyên bố chính thức lạc quan. Các chuyên gia độc lập và các luật gia nổi tiếng ở Philippines đã nói rằng, bất kỳ kế hoạch nào như thế đều có khả năng vi hiến dựa trên các điều khoản nghiêm ngặt của hiến chương quốc gia đòi hỏi chính phủ phải bảo vệ các quyền của quốc gia đối với các nguồn tài nguyên ngoài khơi.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ ước tính Biển Đông có trữ lượng 500 nghìn tỷ mét khối khí đốt tự nhiên và 11 tỷ thùng dầu đã được chứng minh và có thể có, hầu hết nằm dọc theo biên giới của Biển Đông chứ không phải dưới các đảo nhỏ và rạn san hô đang tranh chấp. Khảo sát địa chất Mỹ năm 2012 ước tính có thể có thêm 4.5 nghìn tỷ mét khối khí tự nhiên và 12 tỷ thùng dầu chưa được phát hiện ở Biển Đông. Ước tính của Bắc Kinh đối với tài nguyên hydrocarbon dưới biển cao hơn đáng kể, nhưng vẫn còn khiêm tốn so với nhu cầu tổng thể của Trung Quốc – tiêu thụ dầu của nước này vào năm 2018 dự kiến ​​sẽ đạt 12,8 triệu thùng mỗi ngày.
Tuy nhiên, đối với Việt Nam và Philippines, việc tiếp cận các nguồn năng lượng ở Biển Đông là rất quan trọng. Lô 06.1, một phần của dự án Nam Côn Sơn gần Bãi Tư Chính, cung cấp khoảng 10% tổng nhu cầu năng lượng của Việt Nam. Philippines tạo ra khoảng một phần ba lượng điện cho đảo chính Luzon của mình từ một nguồn duy nhất, mỏ khí Malampaya, dự kiến ​​sẽ ngừng sản xuất vào năm 2024. Trừ khi có nguồn thay thế – và Bãi Cỏ Rong là lựa chọn tốt duy nhất hiện nay – Philippines sẽ cần phải nhập một lượng đáng kể khí thiên nhiên với chi phí cao hơn, nhanh chóng kết hợp các nguồn năng lượng khác vào nguồn cung cấp điện của mình, hoặc phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng.
Hợp tác khai thác những tài nguyên dầu khí đang bị tranh chấp là khó khăn hơn, cả về mặt pháp lý và chính trị, so với thủy sản hoặc quản lý môi trường. Không giống như cá, không có điều khoản trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) yêu cầu các nước hợp tác để quản lý tài nguyên dầu khí trong một biển nửa kín như Biển Đông. Các điều 74 và 83 của UNCLOS nói rằng nếu không có sự phân định ranh giới hàng hải cuối cùng, các quốc gia nên thực hiện kiềm chế lẫn nhau và thiết lập “các thỏa thuận tạm thời có tính thực tiễn” để quản lý các tranh chấp của họ, cung cấp một nền tảng hẹp để thỏa hiệp. Nhưng các hiệp định phát triển chung song phương về dầu mỏ và khí đốt ở các vùng nước tranh chấp là tương đối ít, và không có trường hợp nào “thỏa thuận tạm thời” có liên quan đến ba hoặc nhiều bên. Tuy nhiên, việc tìm kiếm một con đường phía trước là cần thiết nếu các bên yêu sách hy vọng sẽ xoa dịu căng thẳng và tránh làm tổn hại đến an ninh năng lượng của họ.
Mặc dù có những khó khăn rõ ràng, các bên yêu sách có thể hợp tác phát triển dầu và khí đốt ở Biển Đông theo cách thức công bằng và phù hợp với luật pháp quốc tế cũng như luật của tất cả các bên liên quan. Làm như vậy sẽ đòi hỏi sự sáng tạo đáng kể và sẵn sàng thỏa hiệp, đặc biệt là Trung Quốc, hơn là những gì hiển nhiên từ trước tới nay. Một thỏa thuận như vậy sẽ cần phải trở thành khung chung để tất cả các bên yêu sách có thể tuyên bố rằng nó phù hợp với cách giải thích của họ về cả luật quốc gia và quốc tế. Khó khăn nhất là tìm cách để Bắc Kinh lý luận rằng sự hợp tác như vậy là phù hợp với những khẳng định “quyền lịch sử” của họ đồng thời đảm bảo rằng Manila có thể duy trì chiến thắng năm 2016 từ Tòa trọng tài ở The Hague và tất cả các quốc gia ven biển có thể duy trì thẩm quyền đối với thềm lục địa của họ.
Để đạt được sự cân bằng đó sẽ đòi hỏi một số nhượng bộ khó khăn về mặt chính trị nhưng khả thi về mặt pháp lý. Thứ nhất, Trung Quốc sẽ cần phải chấp nhận rằng việc được đảm bảo một phần lợi nhuận từ các nguồn dầu và khí đốt trên khắp Biển Đông sẽ đủ để thỏa mãn đòi hỏi của nước này về “các quyền lịch sử.” Điều này có nghĩa là chấp nhận một hệ thống trong đó các bên yêu sách khác thực hiện quyền tài phán bằng cách cấp phép thăm dò dầu và khí đốt miễn là Bắc Kinh có lợi. Điều này có thể xảy ra, bởi vì chưa từng có bộ luật nào, tuyên bố chính thức, hay văn bản chính phủ của Trung Quốc đã làm rõ chính xác những quyền lịch sử mà Bắc Kinh tuyên bố.
Thứ hai, tất cả các bên yêu sách phải sẵn sàng từ bỏ việc theo đuổi khoan dầu khí dựa trên các quyền được hưởng từ các thực thể địa lý đang trong tranh chấp ở Biển Đông. Các khu vực quản lý thủy sản xung quanh các hệ thống thực thể này có thể cung cấp một cách thức chính trị có thể chấp nhận được để ngăn việc thăm dò các thực thể đó mà không phải xử lý tình trạng pháp lý của thực thể hoặc các vấn đề phân định biển. Đối với Trung Quốc, quốc gia xem các đảo có đầy đủ vùng đặc quyền kinh tế và  thềm lục địa, điều này có thể được lý giải trong nội bộ như một cử chỉ rộng lượng và hành động thiện chí. Bắc Kinh có thể lý giải rằng ngay cả khi các thực thể tranh chấp là các đảo theo điều 121.3 của UNCLOS, bất kỳ sự phân định công bằng nào về ranh giới với các bờ biển dài hơn của các quốc gia Đông Nam Á đối diện chúng sẽ dẫn đến vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa bị giảm xuống chỉ còn là những vùng nước nhỏ mà các thực thể được hưởng. Đối với những bên yêu sách khác, đồng ý từ bỏ khoan thăm dò quanh các rạn san hô và đảo tranh chấp dựa trên nhu cầu bảo tồn môi trường có thể trở thành một lý do chính trị có thể chấp nhận được cho việc tập trung thăm dò và phát triển dầu khí trên các khu vực gần bờ biển đất liền hơn.
Những nhượng bộ này cần là trụ cột của thoả thuận mà không cần phải nêu rõ trong văn bản. Điều đó sẽ cho phép mỗi bên đồng ý về các cơ chế hợp tác trong khi vẫn có thể có những biện giải khác nhau bằng luật nội địa cho việc làm như vậy.
Để đạt mục tiêu đó, các bên yêu sách cần phải đồng ý:
1. Thành lập một liên doanh, dưới hình thức một thực thể thương mại mới, ở mỗi quốc gia yêu sách ven Biển Đông, có sự tham gia của công ty dầu khí quốc gia đó và các đối tác từ các bên yêu sách khác mà quan tâm đến đầu tư. Công việc duy nhất của mỗi liên doanh chỉ là thăm dò và sản xuất tài nguyên hydrocarbon ở ngoài khơi bờ biển của quốc gia đó trên Biển Đông. Đã có những mô hình liên doanh thành công giữa các công ty dầu khí quốc doanh hoạt động ở Biển Đông, nhưng một công ty đa phương được thành lập bởi các bên trong một vụ tranh chấp sẽ là đột phá.
  • Những liên doanh này nên tìm cách xin giấy phép cho các lô ngoài khơi ở Biển Đông được đưa ra bởi quốc gia mà liên doanh đặt trụ sở chính, thông qua thỏa thuận chia sẻ việc sản xuất hoặc thông qua hợp đồng dịch vụ, tùy thuộc vào luật nội địa của nước mời thầu. Điều này sẽ đảm bảo rằng tất cả các bên có cơ hội hưởng lợi từ việc sản xuất dầu và khí đốt trên khắp Biển Đông.
  • Các liên doanh nên tìm cách mua lại cổ phần mà mỗi công ty thành viên đã nắm giữ trong những giấy phép dầu khí ở các phần của Biển Đông mà họ quan tâm. Các hợp đồng hiện tại mà các quốc gia ven biển có với các bên khác sẽ không bị ảnh hưởng, nhưng các liên doanh nên tìm cách thu được các giấy phép đó khi chúng bị các nhà điều hành khai thác hiện tại từ bỏ. Các liên doanh cũng nên tìm cách mua cổ phần thiểu số trong các lô sản xuất thương mại mà nhà điều hành hiện tại không thể từ bỏ giấy phép sớm. Để khảo sát những lô dầu khí đã được cấp phép bởi các bên yêu sách của Đông Nam Á hoặc đang được mở để gọi thầu, hãy xem bản đồ bên dưới. Bản đồ này sẽ được cập nhật bổ sung các lô ngoài khơi của Trung Quốc và cung cấp chi tiết về các nhà điều hành, các cổ đông và thông tin sản xuất.
  • Các bên yêu sách phải công khai đồng ý rằng các quyết định của liên doanh đầu tư vào các lô cụ thể ở Biển Đông sẽ không ảnh hưởng đến các yêu sách lãnh thổ hoặc sự phân định ranh giới biển cuối cùng, và không thể được hiểu là sự công nhận yêu sách của bất kỳ bên nào bởi các thành viên còn lại của liên doanh. Để làm được việc đó, một điều khoản bảo lưu lập trường rõ ràng nên được đưa vào các thỏa thuận thành lập liên doanh và trong tất cả các hợp đồng mà họ tham gia.
  • Mỗi bên yêu sách sẽ được đảm bảo quyền đầu tư trong mỗi liên doanh thông qua các công ty dầu khí quốc gia của họ, nhưng sẽ không có nghĩa vụ phải làm như vậy. Điều này có nghĩa là một bên yêu sách, chẳng hạn như Trung Quốc, có thể có một công ty đầu tư vào từng liên doanh trong khi nước khác có thể đầu tư vào chỉ một hoặc hai. Bất kỳ bên yêu sách nào không có công ty dầu khí quốc gia đầu tư vào một liên doanh cụ thể tại thời điểm thành lập liên doanh này sẽ được hoan nghênh làm như vậy trong tương lai. Ngược lại, mỗi công ty sẽ được tự do thoái vốn tại bất kỳ liên doanh nào vào bất kỳ thời điểm nào (nhưng chỉ được bán lại cổ phần cho các công ty dầu khí quốc gia còn lại).
  • Cổ phần sở hữu bình đẳng của mỗi công ty tham gia vào liên doanh có thể thích hợp hơn trong một số trường hợp, trong khi ở trường hợp khác công ty nào đó có thể muốn đầu tư nhiều hay ít tùy thuộc vào năng lực và mối quan tâm của họ. Những chi tiết này nên được để lại để thương lượng và điều chỉnh khi cần thiết. Tương tự như vậy, các chi tiết về cách thức mỗi công ty đưa ra quyết định đầu tư và mỗi cổ đông hoạt động như nhà điều hành trong bất kỳ dự án cụ thể nào nên để lại cho các công ty dầu khí quốc gia tự đàm phán. Lợi nhuận từ hoạt động của liên doanh nên được chia sẻ dựa trên cổ phần của mỗi công ty đối tác trong tập đoàn.
Các lô dầu khí ở Biển Đông hiện đang được các quốc gia Đông Nam Á cấp phép. Nguồn bản đồ: AMTI/CSIS
2. Đồng ý rằng tất cả các quốc gia ven Biển Đông có thể cho phép thăm dò và sản xuất dầu khí trong phạm vi 200 hải lý từ đường bờ biển của họ trong khi chờ đợi sự phân định cuối cùng các yêu sách biển. Trong các khu vực chồng lấn yêu sách, trừ khi đạt được thỏa thuận song phương trước đó, một đường trung tuyến nên được sử dụng để xác định quốc gia nào tạm thời có quyền cấp giấy phép thăm dò và sản xuất. Sự sắp xếp này được trình bày chi tiết trong bản đồ dưới đây.
  • Các bên yêu sách phải công khai đồng ý rằng việc thành lập các lô ngoài khơi sẽ không ảnh hưởng đến các yêu sách lãnh thổ hoặc sự phân định ranh giới biển cuối cùng, và không thể được hiểu là sự công nhận yêu sách của của các bên khác. Bất kỳ giấy phép nào do các quốc gia ven biển đưa ra cũng phải kết hợp điều khoản bảo lưu lập trường ​​xác định rằng thỏa thuận tạm thời này sẽ không ảnh hưởng đến việc phân định ranh giới cuối cùng.
  • Quá trình cấp phép sẽ hoạt động theo luật pháp nội địa của các quốc gia ven biển. Trong một số trường hợp, các chính phủ có thể cấp giấy phép cho liên doanh tham gia vào việc thăm dò và sản xuất hydrocarbon ngoài khơi bờ biển của quốc gia đó, trong khi ở những liên doanh khác có thể sẽ cần đấu thầu cạnh tranh. Ngay cả trong những trường hợp được yêu cầu đấu thầu, các liên doanh sẽ có những lợi thế đáng kể – về chính trị và mặt khác – so với các đối thủ cạnh tranh.
  • Nhà nước ven biển cấp giấy phép mà một trong những liên doanh lấy được thì cũng sẽ được hưởng cùng một phần lợi nhuận (phần lớn trong hầu hết các trường hợp) và có quyền đánh thuế như trong việc cấp giấy phép cho bất kỳ công ty nào khác. Điều này sẽ đảm bảo rằng các nước duyên hải hưởng lợi nhiều nhất từ ​​các nguồn tài nguyên ngoài khơi bờ biển của họ trong khi vẫn cho phép tất cả các thành viên trong liên doanh chia sẻ lợi nhuận.
  • Bất kỳ khung phát triển chung hiện có nào, chẳng hạn như giữa Malaysia và Brunei ngoài khơi bờ biển Brunei hoặc giữa Malaysia và Việt Nam gần lối vào Vịnh Thái Lan (xem bản đồ), sẽ không thay đổi. Liên doanh mới thành lập sẽ tìm cách xin giấy phép tại các khu vực này như bất kỳ công ty dầu khí nào, trong khi các quốc gia ven biển sẽ đấu thầu giấy phép và chia lợi nhuận theo thỏa thuận từ trước của họ.
    Các khu vực mà các nước có yêu sách Biển Đông sẽ tạm thời có quyền cấp giấy phép thăm dò và sản xuất hydrocarbon, trong khi chờ phân định ranh giới biển cuối cùng. Nguồn bản đồ: AMTI/CSIS
3. Đồng ý từ bỏ thăm dò dầu khí trong các khu bảo tồn thủy sản ở các hệ thống rạn san hô quan trọng của Biển Đông, bao gồm quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, các bãi cạn Scarborough và Luconia. Những khu bảo tồn này được xác định bởi một cơ quan đa phương gồm các chuyên gia độc lập và các quan chức khu vực (xem Đề án chi tiết cho quản lý nghề cá và hợp tác môi trường).
4. Tiến hành một cuộc khảo sát dầu khí chung, được thực hiện bởi một hoặc nhiều công ty, trong khu vực đáy biển ở trung tâm Biển Đông bên ngoài khu vực 200 hải lý từ đường bờ biển mỗi quốc gia như một biện pháp tạm thời. Điều này sẽ là một sự thừa nhận rằng một số khu vực nằm ngoài 200 hải lý là đối tượng của các yêu sách thềm lục địa chồng lấn nhau của các nước ven biển trong khi các khu vực khác có thể hoàn toàn nằm ngoài bất kỳ thềm lục địa nào và do đó tạo thành một phần di sản chung của nhân loại.
Bản đề án này đại diện cho sự đồng thuận giữa các thành viên của Nhóm công tác chuyên gia Biển Đông tại CSIS với tư cách cá nhân và không đại diện cho quan điểm của các tổ chức mà họ là thành viên.
Nhóm dịch và hiệu đính là cộng sự của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông. Nguồn bản gốc tiếng Anh: https://amti.csis.org/a-blueprint-for-cooperation-on-oil-and-gas-production-in-the-south-china-sea/
Những bài đăng trên Dự án Đại Sự Ký Biển Đông thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết là quan điểm của tất cả các thành viên, cộng tác viên hay nhà tài trợ Dự án Đại Sự Ký Biển Đông.
Tác giả: Nhóm công tác chuyên gia CSIS
Asia Maritime Transparency Initiative ngày 25 tháng 7 năm 2018
Biên dịch: Nguyễn Phúc Thiện | Hiệu đính: Trần Lê Quỳnh
Dự án Đại Sự Ký Biển Đông ngày 2 tháng 8 năm 2018

"Tổ tiên" nào để lại Biển Đông cho ông Tập Cận Bình?


Nếu hiểu lịch sử, cái gì không phải của mình thì 1 phân cũng không thiết, ông Tập Cận Bình nên trả những vùng lãnh thổ không phải của Trung Quốc, cho chủ cũ.

The New York Times ngày 29/6/2018 đưa tin, dưới sự lãnh đạo của ông Tập Cận Bình, các quan chức Trung Quốc đang tăng cường giáo dục chính trị cho sinh viên hơn 2500 trường đại học tại quốc gia này.

Các sinh viên Trung Quốc buộc phải hoàn thành 5 môn chính trị mới có thể tốt nghiệp, bao gồm:

Chủ nghĩa Mác, Tư tưởng đạo đức, Lịch sử Trung Quốc cận hiện đại, Tìm hiểu tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, Chính sách với các dân tộc thiểu số. [1]

Tham vọng của ông Tập Cận Bình trên Biển Đông

Ngày 27/6/2018 trước những chỉ trích của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis về vấn đề Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông, leo thang căng thẳng và gây lo ngại trong khu vực, ông Tập Cận Bình nói rằng:

"Lãnh thổ mà tổ tiên để lại, một tấc cũng không được đánh mất. Thứ gì của người khác thì một phân chúng tôi cũng không cần".

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, ảnh: Time / Getty Images.

Đáp lại phát biểu này của ông Tập Cận Bình, Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis một lần nữa nhắc lại rõ ràng về lợi ích của Mỹ cũng như tất cả các quốc gia trong việc tuân thủ luật pháp quốc tế, tự do hàng hải trên Biển Đông. Ông nói:

"Chúng tôi nghe được rất nhiều phàn nàn và quan ngại của các nước trong khu vực về hành vi của Trung Quốc và cách thức Trung Quốc theo đuổi (những gì Bắc Kinh cho là) lợi ích của mình.

Nhưng chúng tôi nhìn thấy khả năng phản tác dụng của những hành vi này đối với lợi ích của người dân Trung Quốc."

Một quan chức quân sự Mỹ tham dự cuộc gặp này cho biết, giới chức Trung Quốc bày tỏ họ rất thất vọng trước việc Lầu Năm Góc hủy lời mời Bắc Kinh tham gia cuộc tập trận Vành đai Thái Bình Dương 2018 vì quân sự hóa Biển Đông.

Tướng James Mattis đã giải thích rõ ràng về mục đích của cuộc tập trận này, và hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông không phù hợp với các giá trị và nguyên tắc ấy nên Mỹ phải hủy lời mời. [2]

Trước đó nhà lãnh đạo Trung Quốc khẳng định, nước này sẽ kiên trì con đường phát triển hòa bình, không theo con đường bành trướng và chủ nghĩa thực dân, càng không làm cho thế giới hỗn loạn.

Phát biểu trên của ông Tập Cận Bình được cho là đáp lại những chỉ trích của tướng James Mattis về việc Trung Quốc bành trướng quân sự trên Biển Đông và nhấn mạnh lập trường bảo vệ tự do hàng hải, luật pháp quốc tế trên vùng biển này.

Khi hội đàm với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa, tướng James Mattis cũng nhắc lại lời hứa của ông Tập Cận Bình năm 2015 về việc không quân sự hóa Biển Đông.

Ông Giả Khánh Quốc - Phó Viện trưởng Viện Quan hệ quốc tế, Đại học Bắc Kinh nói với The New York Times:

Các động thái và phản ứng của Trung Quốc, Hoa Kỳ liên quan đến Biển Đông và Đài Loan đều có xu hướng gia tăng căng thẳng, bởi sự hoài nghi lẫn nhau đang chi phối, điều này có thể làm tăng rủi ro mất kiểm soát.

Bắc Kinh đặc biệt "quan ngại" vấn đề Đài Loan và khả năng nội các Tổng thống Donald Trump sẽ thử giới hạn chịu đựng của Trung Quốc trong vấn đề này.

Còn trên Biển Đông, các hành động phản ứng của Hoa Kỳ với Trung Quốc chủ yếu mang tính tượng trưng như việc Mỹ cho B-52 bay qua Trường Sa, trong khi Trung Quốc đã cài đặt (bất hợp pháp) tên lửa phòng không, chống hạm trên các đảo, đảo nhân tạo. [3]

"Tổ tiên" nào để lại Biển Đông cho ông Tập Cận Bình?

Trước tuyên bố của ông Tập Cận Bình rằng "một tấc lãnh thổ tổ tiên để lại" quyết không để mất khi đáp lại các chỉ trích của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ về hành vi bành trướng trên Biển Đông, nhà bình luận người Duy Ngô Nhĩ, Ilshat Hassan đã đặt câu hỏi:

Vậy tổ tiên của ông Tập Cận Bình là ai?
Nhà bình luận Ilshat Hassan, ảnh: Uyghurnet.

Theo ông Ilshat Hassan, phát biểu này của ông Tập Cận Bình xem ra có vẻ cứng rắn, nhưng cứng rắn không có nghĩa là đúng đắn, bởi người Trung Quốc có câu "hữu lý bất tại thanh cao", đại ý không phải cứ cả vú lấp miệng em là có lý.

Để làm rõ tuyên bố của ông Tập Cận Bình trong bối cảnh này có hợp lý và có căn cứ hay không, Ilshat Hassan cho rằng phải làm rõ ai là "tổ tiên" của ông ấy (để lại yêu sách lãnh thổ trên Biển Đông)?

Ilshat Hassan tin rằng làm rõ việc này không khó, bởi lịch sử Trung Quốc về cơ bản không quá phức tạp.

"Tổ tiên" mà ông Tập Cận Bình đề cập, chỉ có 2 khả năng, một là các đế quốc Nguyên Mông và Mãn Thanh đã chinh phục Trung Nguyên.

Đây là 2 triều đại xâm lược và chinh phục đất đai nhiều nhất lịch sử Trung Quốc, đặc biệt là nhà Mãn Thanh.

Nhưng nếu coi 2 triều đại này là "tổ tiên", Ilshat Hassan cho rằng ông Tập Cận Bình đã nhận lầm, tri thức lịch sử Trung Quốc bằng không.

Nếu xem các vương triều Trung Nguyên của người Hán là "tổ tiên" và ông Tập Cận Bình là người kế thừa, thì triều đại cuối cùng là nhà Minh, trên đất liền lấy Vạn Lý Trường Thành làm biên giới, các vùng duyên hải lấy bờ biển làm biên giới.

Ngoài thái giám Trịnh Hòa có chuyến đi thám hiểm Tây phương, có thể nói nhà Minh là triều đại bế quan tỏa cảng nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Trung Quốc.

Cho nên, nếu coi nhà Minh là "tổ tiên" thì chẳng những Biển Đông không phải "của" nhà Minh truyền lại cho ông Tập Cận Bình, mà ngay cả Tân Cương, Tây Tạng, Nam Mông Cổ, Mãn Châu và Đài Loan cũng không phải của "tổ tiên" ông ấy để lại, Ilshat Hassan bình luận.

Vì vậy, nếu am hiểu lịch sử Trung Hoa và khẳng định, cái gì không phải của mình thì 1 phân cũng không thiết, ông Tập Cận Bình nên trả những vùng lãnh thổ không phải của Trung Quốc, cho chủ cũ, ông Ilshat Hassan kết luận. [4]

Nguồn:

[1]https://cn.nytimes.com/china/20180629/chinese-classrooms-education-communists/

[2]http://freebeacon.com/national-security/mattis-hits-south-china-sea-military-buildup-talks-xi/

[3]https://cn.nytimes.com/china/20180628/mattis-xi-china-sea/?utm_source=top10-in-article&utm_medium=email&utm_campaign=web

[4]http://www.uyghurnet.org/cn/%E8%B0%81%E6%98%AF%E4%B9%A0%E8%BF%91%E5%B9%B3%E7%9A%84%E8%80%81%E7%A5%96%E5%AE%97%EF%BC%9F-%EF%BC%88%E4%BC%8A%E5%88%A9%E5%A4%8F%E6%8F%90%EF%BC%89/

Hồng Thủy - GDVN.

Sau Biển Đông, cảnh báo cuối cùng cho sông Mekong


Viện Lowy của Úc tiếp tục đánh động thế giới về mưu đồ của Trung Quốc đối với sông Mekong, đặc biệt sau khi nước này quân sự hóa xong Biển Đông. Đông Nam Á cần phải hành động trước khi quá muộn.

Bài viết dưới đây đăng trên trang The Interpreter của Viện Lowy do chuyên gia Elliot Brennan chấp bút. Ông Brennan là nhà nghiên cứu độc lập từng cộng tác với Viện An ninh và chính sách phát triển (Thụy Điển), trang phân tích quốc phòng IHS Jane, Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (Mỹ)...

Đập thủy điện Cảnh Hồng ở Trung Quốc - Ảnh: BLOOMBERG

Sau bao nhiêu ồn ào, đến giờ phút này có thể nói công cuộc bồi đắp và quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông đã gần xong. Bắc Kinh giờ đây có thể kiểm soát một trong những tuyến vận tải huyết mạch của thế giới, biến luật pháp quốc tế thành trò đùa.


Nhưng chưa dừng lại ở đó, đích nhắm sắp tới của Bắc Kinh sẽ là một động mạch quan trọng khác chạy xuyên lục địa Đông Nam Á: Sông Mekong.

Bắt nguồn từ Trung Quốc với tên gọi Lan Thương, sông Mekong kết nối các quốc gia Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Kiểm soát sông Mekong chính là "lát cắt salami" còn lại, với một nửa kia là Biển Đông, giúp Trung Quốc nắm thế chiến lược "kẹp sandwich" cả lục địa Đông Nam Á.

Campuchia, Việt Nam sẽ lãnh đủ


Kiểm soát dòng chảy Mekong bằng hệ thống đập dày đặc đồng nghĩa với kiểm soát khả năng tiếp cận nguồn lương thực - sinh kế của hàng chục triệu người thuộc các cộng đồng sống ven sông.

Trong tất cả đập thủy điện đang vận hành trên sông Mekong hiện nay, phần lớn công suất thuộc về các đập nằm trên đất Trung Quốc, chiếm hơn 15.000 Megawatt (MW). Chỉ riêng đập Nọa Trát Độ thuộc địa phận tỉnh Vân Nam đã có công suất 5.850 MW, chưa tính nửa tá đập khác công suất trên 1.000 MW.

Nếu gộp lại, các đập của Trung Quốc có thể giữ tổng cộng 23 tỉ m3 nước - tương đương 27% lượng nước chảy hàng năm giữa Trung Quốc và Thái Lan. Các đập khác nằm ở hạ lưu với công suất chỉ vài chục đến vài trăm MW không đáng là bao nếu mang ra so sánh.

Tóm lại, Trung Quốc bây giờ đã có thể điều khiển dòng chảy sông Mekong, đặc biệt là vào mùa khô, khi Cao nguyên Tây Tạng đóng góp đến 40-70% lượng nước cho dòng sông.

Tác động đối với an ninh lương thực bây giờ đã lớn, nhưng về sau sẽ còn kinh hoàng hơn nếu 11 dự án đập khổng lồ đang đề xuất được thông qua (trong đó hết một nửa do Trung Quốc chống lưng).

Một báo cáo gần đây của UNESCO và Viện Môi trường Stockholm dự báo lượng phù sa của sông Mekong sẽ giảm 94% một khi các con đập mới xây xong, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động đánh bắt cá và sức khỏe nói chung của sông Mekong.

Đáng lo hơn, các chuyên gia phát hiện những lời hứa hẹn "kích cầu kinh tế, tăng sản lượng điện" cho các nền kinh tế khu vực Hạ Mekong chỉ là dối trá. Phần lớn năng lượng trong các dự án đang đề xuất sẽ thẳng tiến Trung Quốc, trong khi các nước còn lại phải gánh những hậu quả kinh tế tiêu cực.

Người ta dự báo trong 50 năm tới, các nền kinh tế hạ lưu sông Mekong sẽ tổn thất ròng khoảng 7,3 tỉ USD, trong đó hai nước cuối nguồn là Việt Nam và Campuchia sẽ thiệt hại nhiều nhất. Đó là chưa kể những tổn thất không thể nào đo đếm được về mặt xã hội.

Công trường dự án đập Don Sahong ở Lào - Ảnh: BLOOMBERG

Dự án Thiên Hà - mối nguy mới


Đã có nhiều lo lắng về việc Bắc Kinh dùng đập nước như một "vũ khí hủy diệt". Chỉ cần Trung Quốc xả một lượng nước lớn nhưng không thông báo trước, hiệu ứng domino sẽ buộc các đập dưới hạ nguồn phải xả đồng loạt và gây ra lũ quét trên diện rộng.

Trung Quốc còn một quân bài khác ít gây chú ý hơn nhưng không kém phần nguy hiểm: Dự án Thiên Hà. Nói vắn tắt, mục đích của dự án này là làm tăng lượng mưa ở các vùng khô hạn trên Cao nguyên Tây Tạng thêm 10 tỉ m3 - tương đương 7% mức tiêu thụ nước hiện tại của Trung Quốc - bằng công nghệ "cloud seeding" (gieo mây, làm mưa nhân tạo).

Nước mưa rơi xuống Cao nguyên Tây Tạng một phần sẽ chảy dồn vào lưu vực của các con sông xuyên quốc gia như Mekong, Brahmaputra, Indus, và Salween; phần còn lại Trung Quốc có thể điều tiết tùy theo nhu cầu của họ bằng hệ thống đập va công trình thủy lợi.

Tuy nhiên, chuyên gia Janos Pasztor thuộc Tổ chức Hội đồng Carnegie (Mỹ), lưu ý rằng công nghệ "cloud seeding" không tạo ra thêm mưa mà nó chỉ lấy ở nơi này chuyển sang nơi khác, tức là khiến mưa xảy ra ở một nơi nhất định, có nghĩa ở một nơi khác mưa sẽ biến mất".

Kiểm soát thời tiết, bảo đảm rằng mưa rơi trên lãnh thổ Trung Quốc chính là bước tiếp theo giúp Bắc Kinh kiểm soát dòng nước chảy vào các nước láng giềng. Điều này đáng sợ một phần cũng do thành tích quản lý môi trường khét tiếng của Trung Quốc: 70% sông hồ ở Trung Quốc ô nhiễm nặng.

Trung Quốc thay trời làm mưa hẳn không phải tin lành. Lúc tốt thì nó khuyến khích các quốc gia láng giềng xây đập thủy điện, lúc (quan hệ) tồi tệ thì chúng ta có hạn hán nghiêm trọng ở cuối nguồn, và cả món vũ khí nước hủy diệt.

Bồi đắp ở Biển Đông, phá hủy ở Mekong


Đập nước và mưa cũng chưa phải là hết.

Trái ngược với hành động bồi đắp ở Biển Đông, Trung Quốc đã tiến hành trên sông Mekong cái gọi là "Dự án Cải thiện luồng lạch".

Nói đơn giản, đó là hành động cho phá nổ các cồn đất, bãi đá và luồng xoáy trên sông Mekong để hình thành nên tuyến giao thông xuyên qua trái tim của lục địa Đông Nam Á đến tận Lào.

Trớ trêu nằm ở chỗ, cái giá để tạo ra tuyến vận chuyển mới cho hàng hóa Trung Quốc xâm chiếm khu vực lại là những tổn thất nặng nề về môi trường và xã hội của chính các nền kinh tế Đông Nam Á.

Có lẽ vì thấy trước điều này nên Thái Lan đến nay vẫn chưa đồng ý với dự án nạo vét sông Mekong trên phần đất của mình.

Mối quan ngại về sông Mekong và nhiều con sông khác trong chiến lược địa chính trị của Trung Quốc không phải mới mẻ, nhưng dường như nhiều sự kiện nhỏ đã dẫn cả khu vực đến "điểm tới hạn" - tức bước ngoặt dẫn đến những thay đổi lớn.

Các nước Đông Nam Á chỉ có 2 lựa chọn, phản ứng hoặc ngồi yên chịu tổn thất.

TTO.

Designed byTin không lề |